|
Tâm Bịnh
Tôi lên căn–tin uống cà phê chớ không có ý gọi điện về thăm nhà, vì thấy hộp điện thoại treo bên vách mới toan, bóng loáng bèn gắn thẻ vô quay chơi. Nhưng Thanh, vợ tôi, không có ở nhà. Sẵn tay bấm số thăm người bạn. Bên kia đầu dây, vợ anh bạn bắt điện thoại. Nghe tiếng tôi, chị reo lên: – Tấn hả, chừng nào dìa? – Tuần sau chị. Không đợi tôi hỏi thăm sức khoẻ gia đình, như nguồn thác đổ, chị sổ một tràng: – Anh dìa lần nầy ở nhà luôn đi, tội nghiệp con Thanh, hôm trước mẹ con chở nhau lên tui nè, qua hồi nói chuyện, tui thấy hình như nó bị stress hơi nặng, anh mà đi hoài có ngày nó bị điên mất. – Ừa chuyện gì cũng từ từ chớ chị, tánh tình vợ tôi khi mưa khi nắng, chắc hổng sao đâu chị. – Từ từ gì, tại anh hổng biết tánh nó, hơn nữa anh đi hoài đâu thấy được nỗi cơ cực khi đàn bà có con nhỏ. Như tui đây nè, mới có một đứa vậy mà vợ chồng thay phiên nhau lo còn hổng xuể. Huống hồ chi con Thanh mình ên mà ôm tới hai đứa. Trong lúc chị ngưng lấy hơi, tôi lái câu chuyện qua bằng cách hỏi thăm sức khoẻ gia đình chị. Như con tàu xuôi dòng gặp chướng ngại vật, chị trả lời qua loa ngắn gọn rồi lái lại câu chuyện. Một hai chị thuyết phục tôi phải bỏ việc làm dưới tàu về nhà sau chuyến đi nầy. Theo chị, qua bên nầy rồi không mần cũng có ăn, đi làm chi xa nhà xa cửa bỏ vợ bỏ con... Chị nói tràng giang đại hải, tôi có muốn ngừng cũng không được. Cúp ngang thì mích lòng, tôi đành phải cầm chặt ống nghe nghe chị dạy bảo, tới khi điện thoại báo thẻ sắp hết, chị còn ráng thòng thêm một câu: – Về bờ sống tiện tặng cũng được mà, anh coi trong nghĩa địa có ai chết vì bị thất nghiệp không. Điện thoại cúp, hết sạch tấm thẻ mười đồng. Gát ống nghe, tôi ngơ ngẩn nhìn ra bến cảng. Những chiếc xe giống như những con bọ khổng lồ, cõng trên lưng vừa vặn một container hình chữ nhựt, từ dưới bến lần lượt bò ngay hàng thẳng lối lên sân rộng và dừng lại cho cần cẩu móc xếp ngay ngắn vô các ô đã vạch sẵn trên một khoảng sân. Tôi đương ở trong thế giới máy móc mới mẻ mà trước đây chỉ có trong những phim khoa học giả tưởng. Cho nên khi nghe giọng điệu của chị ‘nó’ gợi trong tôi nỗi nhớ nhung về những chốn xa xôi còn đương nghèo khổ. Ngay bây giờ, trên đất nước tôi, biết bao nhiêu người đàn ông đi làm ăn xa. Vợ ở nhà ôm con chờ đợi mau thì hàng tháng, lâu thì hàng năm, bảy năm nhưng khi chồng trở về, biết có tiền bạc để xây dựng gia đình hay chỉ là hai bàn tay trắng? Mỗi bận chồng ra đi vợ cứ nơm nớp lo âu, không biết ngày về anh có còn là chồng mình nữa hay không? Cực khổ trăm bề nhưng vẫn chờ vẫn đợi. Việt Nam cũng có lúc thây người chết đầy đường vì thiếu ăn, Phi Châu người chết đói thây phơi như rạ khô trên cánh đồng sau mùa gặt, Bắc Hàn đói khát lạnh lẽo và nhiều nước nghèo mồ chôn tập thể vì nạn đói... Hổng biết chị còn nhớ hay không? Hơn hai mươi năm trước chị cũng nằm dài trong trại tị nạn thiếu ăn, thiếu mặc. Nếu không có những người hảo tâm trên thế giới nầy góp phần giúp đỡ và được vương quốc Hoà Lan cho định cư chắc chắn chị cũng bỏ thây trên hải đảo hoang vu nào đó trong vùng biển Nam. Người ta mời chị qua tị nạn chớ có phải mời qua tiệc tùng nào đâu mà ngồi ăn khơi khơi và còn lớn lối. Sống trên đất nước nạn thất nghiệp coi như trận giặc, người đông việc ít, có một việc làm đàng hoàng để khỏi sanh "giặc" là lương thiện lắm rồi. Nghề thủy thủ đâu đến nỗi bất lương nhưng không hiểu sao nhiều người gặp thủy thủ làm như gặp hải tặc không bằng. Ba tháng trên tàu, tuần nào tôi cũng điện thoại về thăm vợ thăm con. Thỉnh thoảng tàu về Hoà Lan, Thanh cũng có chở con xuống thăm. Mới hôm kia điện thoại về mẹ con cười, nói vui vẻ và bàn tính chuyện qua Tây Ban Nha nghỉ hè sắp tới, tôi đâu nghe thấy triệu chứng tâm thần nào đâu. Chẳng lẽ đương không nổi khùng bất tử. Hơn nữa Thanh có chuyện rắc rối hoặc tinh thần bất ổn thì điện thoại nói với tôi, có đâu chạy xe cả giờ đồng hồ lên nhà chị than thở. Nhà ở cách nhau cả trăm cây số, xuân, thu nhị kỳ mới gặp nhau, ăn một bữa, nói chuyện vài câu. Chị hiểu được gì mà quả quyết hiểu vợ tôi còn hơn tôi nữa. Muốn bấm số gọi về nhà nhưng thẻ không còn. Hôm nay nắng đẹp, mới hơn mười giờ sáng, có lẽ Thanh vừa dẫn con đi chơi đâu đó. Tôi lững thững bước ra khỏi căn tin trong không khí đầu mùa hè ấm áp. – Papa kìa.. papa kìa.. papa kìa.... Tôi day lại, ngạc nhiên thấy đứa con gái đầu lòng giọng đớt đát kêu Papa vừa a tầm phù chạy tới, con nhỏ mới hơn năm tuổi mà lanh quá chừng miệng tía lia. Tôi cúi xuống đón bồng nó lên. Thanh tay bồng đứa nhỏ, tay xách giỏ đồ đi tới: – Anh thấy em tìm đường giỏi không ? – Ai chớ vợ anh là số một rồi. Đứa con gái thứ hai cũng chồm qua đòi papa, tôi vói tay ẵm luôn nó và dắt mẹ con xuống tàu. Mấy thủy thủ thấy gia đình tôi lục đục kéo xuống, có người chồm ra boong vẫy tay chào và hô lớn: – Mày là thằng không tốt, vợ xuống thăm mà không cho biết. Tôi nói: – Tình cờ ông à. Lisal thủy thủ người In đô chạy lên đón lấy giỏ đồ bắt tay chào và hỏi thăm sức khoẻ. Thanh nói với nó: – Hồi nãy tôi có ghé tiệm Tàu mua cho mấy ông bịch ớt và mớ rau muống, định mua thêm mì gói nhưng tôi xách không hết. – Bao nhiêu đó cũng đủ chúng tôi ăn tiệc lớn rồi. Ban đêm trên tàu chỉ có tiếng rè rè của máy phát điện. Hai đứa con tôi nằm cạnh bên, bắt tôi gãi lưng cho chúng. Sau một hồi rờ mặt, móc mũi, móc mắt tôi đã rồi hai đứa mới chịu ngủ. Tôi nhìn hai đứa nhỏ ngủ ngon, con nít hồn nhiên, vô tư lúc nào cũng hiện lên trên gương mặt. Tôi nhớ ngày còn nhỏ, sống trong một xóm lưới nghèo ven biển, lòng con người ta thẳng như ruột ngựa. Ngôn ngữ của dân đánh cá dùng trao đổi, tâm tình hoặc khuyên bảo thậm chí họ chửi bới nhau cũng đâu đến đổi khó nghe. Không lẽ sống trong xã hội càng văn minh ngôn ngữ và lòng dạ con người ta càng sanh ra phức tạp? Tôi kê gối, đắp mền cho hai đứa con, day qua hỏi vợ: – Vừa rồi em có lên nhà chị Lắm phải không? – Đâu có. – Ủa. – Sao anh ? – Vậy ai bị stress ? – Anh nói ai stress gì ? Tôi không muốn khui ra ba chuyện tào lao làm cho tổ ấm chúng tôi chộn rộn. Tôi bèn nói lảng sang chuyện khác. – Anh nói với em tuần tớì anh về, sao em còn chạy lên làm chi cho mất công? – Mấy bữa nay Lệ đòi đi thăm anh, hôm nay trời nắng đẹp, biết tàu anh vô, em điện lên công ty hỏi. Họ nói tàu anh đậu lại đây mai mới chạy, em xin họ số bến cảng rồi sửa soạn đem con xuống cho nó chơi với anh. Người ta nhớ xuống thăm mà cũng cằn nhằn. – Anh sợ em cực chớ cằn nhằn em đâu. – Hồi nhỏ em theo má thăm ba cải tạo lên xe, xuống đò, đi ngày đi đêm nhịn đói, nhịn khát cực khổ trăm bề. Ở đây lên xe hơi nỗ máy chạy có hơn giờ đồng hồ gặp anh sướng thấy mồ, cực khổ gì đâu. Tôi lòn tay qua ôm và áp mặt vợ sát vô ngực mình. Cả hai yên lặng nằm nghe hơi thở của hai đứa con. Tội nghiệp, tôi làm ăn xa nhà, để một mình vợ ôm con xoay sở giữa cuộc đời đầy náo động. Dường như lúc nào gặp đồng hương, Thanh phải lắng nghe những lời dạy bảo. Có bà khuyên Thanh nên bỏ tôi đi cho rảnh cái nợ đời. May mắn cho chúng tôi, đã sống với tôi ngót mười năm nhưng chưa lần nào gặp sóng to gió lớn. Hạnh phúc được như vậy đúng ra tôi phải hãnh diện mà tin tưởng vợ. Nhưng không hiểu sao ôm cái hạnh phúc trong tay mà lòng tôi cứ ngai ngái lo cho những ngày sắp tới. – Anh, anh. – Gì em? – Em thấy anh kỳ kỳ sao ấy? Nghe giọng Thanh lo lắng, tôi giựt mình hối hận cho những suy tư vớ vẩn. Tôi xoa xoa lưng vợ nói nói như vỗ về: – Anh đương nghĩ trong một xả hội quá an bình lại sanh ra nhiều chứng tâm thần, riết rồi anh không biết ai bịnh ai không. Giọng Thanh có hơi trách hờn: – Em dẫn con xuống thăm anh, anh không lo mà anh lo chuyện đâu đâu không, có ngày anh bịnh chớ ai. – Ha ha ... em nói đúng, vợ anh lúc nào cũng đúng. – Xạo nữa đi. – Ý chết ! Chút nữa anh quên. – Quên gì anh? – Quên bổn phận của anh. – !!!
Nguyễn Lê Hồng Hưng Thứ tư, 03 tháng bảy năm 2002
|
Copy right © 2002 .
Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved