|
Tôi cũng có ăn tôm cốc-tai của Tây phương, món nầy tôm luộc lột vỏ, bỏ vô ly thủy tinh cao cẳng, dưới đáy ly lót miếng xà lách. Trước khi ăn rưới sốt mayonnaise pha tỏi, tiêu, chanh, ngò tây xắt mịn và rượu whisky lên. Để cho ly cốc-tai thêm phần duyên dáng, người ta cắt một khoanh chanh gắn lên vành ly. Trông rất đẹp mắt, nhưng gia vị hầm bà lằng như vậy làm mất hết mùi tôm nguyên chất. Có một dạo báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh của Hòa Lan loan tin rầm rộ có người chết vì ăn nhằm tôm tép nhập cảng từ Á châu. Tin gây xôn xao trong dân chúng vương quốc Hòa Lan và bay ra tận ngoài khơi, trong lúc tàu đương hải hành giữa Đại Tây Dương. Nghe đâu một người chết, năm sáu người ngất ngư phải đem vô nhà thương rửa ruột. Câu chuyện làm thủy thủ đoàn bàn tán rùm beng... Cuối cùng ông thuyền trưởng đề nghị đầu bếp đem bao nhiêu tôm trong phòng đông lạnh liệng bỏ hết xuống biển. Ông nói, ngừa trước tốt hơn, lỡ ăn tôm có bề gì ở giữa đại dương không có nhà thương rửa ruột. Vốn lớn lên trên một quê hương giàu tôm cá, tôi thấy người ta ăn nhằm mật con cá nóc mới chết, chớ chưa từng nghe ai ăn tôm tép chết bao giờ. Dĩ nhiên, tin tức loan rầm rộ, có cả hội đồng y khoa xác nhận, ắt hẳn hổng phải tin gà, tin vịt rồi. Nhưng sao lòng tôi không thấy chút nào xao động hay sợ hãi. Tôi nhứt định để dành mấy hộp tôm lại. Mỗi chiều tôi luộc một mớ, làm một dĩa nhỏ chanh, tiêu, muối đem lên phòng nhậu với bia lạnh. Tôi ăn dần trong hai tuần lễ hết sạch sáu ký tôm thẻ. Vậy mà trong người tôi hổng thấy có triệu chứng bịnh đau gì ráo! Rồi từ đó trở đi tôi không còn biết thèm thuồng tôm tép như trước kia nữa.
Còn vụ ăn tôm tép cho ‘ra hồn’ thì chuyện đã xảy ra hơn mười lăm năm trước lận. Năm đó tôi mới mười chín tuổi. Gia đình tôi sanh sống bên vàm sông Ông Đốc. Anh em tôi mần nghề đánh cá, đi bạn cho người ta, tay làm lắm khi hổng đủ để cho hàm nhai. Vì vậy ngoài nghề biển ra phải mần một chuyện gì phụ khác châm thêm, chớ hổng thôi nhằm lúc biển động dai dẳng, cả nhà treo mỏ hết. Vì lẽ đó những ngày biển êm anh em tôi đi bạn. Biển động lên rừng móc cua, bắt ba khía. Động nam dai dẳng thì làm vợt cùng ba tôi bơi xuồng đi xúc tôm càng theo sông, rạch. Mùa động nam năm ấy, tôi bơi xuồng đi xúc tôm càng với ba tôi. Lần hồi vô tới rạch Vinh, thì trời vừa đổ mưa to. Gió lớn quá mà hai cha con chằng nghịch dưới nước cả buổi, lạnh tím môi, miệng đánh bò cạp, nhưng bù lại trúng tôm càng xanh. Số tôm nầy đem cân bán lấy tiền đong gạo chắc cũng đủ nuôi sống gia đình được vài ngày. Nước bắt đầu lớn, tôm lội lan ra ngoài, xúc cũng không có nữa. Sẵn thấy chòi bác ba Đó bên bờ rạch, ba tôi kêu tôi bơi xuồng ghé vô đụt mưa, luôn tiện thay áo quần khô cho ấm, chờ tạnh mưa hẳn rồi về. Dạo đó rạch Vinh còn là khu rừng rậm, cây cối tạp nhạp. Dọc theo hai bên bờ, nhiều chòi đóng đáy, đặt đó dựng lúp thúp dựa lưng bìa rừng. Những người khác, đầu con nước họ vô đóng đáy, đặt đó, cuối nước họ về nhà. Riêng bác ba không ưa cảnh ồn ào làng xã, mới ở miết trong nầy. Căn chòi bác ban đầu cũng đơn sơ như những căn chòi khác, nhờ bác tu bổ lần hồi chòi biến thành nhà có bàn thờ bác gái, có buồng ngủ riêng cho con gái bác. Bên hông nhà một chái bếp. Tiếp liền bên ngoài sân đất cao, rộng dành phơi tôm, phơi củi. Chung quanh khu nhà bao bọc rừng rú âm u... Bác mần nghề đặt đó, người ta kêu ông ba Đó riết rồi chết danh. Bác sống với Phương, đứa con gái duy nhứt, mười bảy tuổi. Năm Phương học lớp ba trường xã, chẳng may bác gái bịnh qua đời, nàng phải bỏ học trở về phụ bác trai lo việc nhà. Những khi bác Ba dỡ đó đem về, Phương lựa tôm lứa luộc phơi khô, tôm to đem rộng chung với cá bóng trong chiếc rộng mây thả dưới bờ rạch, chờ khấm khá chở qua nhóm chợ vàm. Phương có nước da màu bánh ít, mặt chữ điền, mắt đen, mình dây, tánh tình vui vẻ. Mỗi khi qua chợ bán tôm cá, nàng thường mua bài ca đem về ngâm nga những khi rảnh rỗi. Buổi trưa người ta chèo xuồng dưới dòng rạch, nghe văng vẳng giọng nàng vừa làm đào vừa làm kép, hát cả tuồng cải lương. Bác Ba ngồi trên bộ vạt nhâm nhi rượu đế. Thấy cha con tôi lên bác vui vẻ đón mời: – Kìa, anh Bảy với thằng Cu. Chà, hai tía con chằng nghịch dưới nước hồi sớm tới giờ lạnh lắm hả? Vô đây mần vài cốc cho ấm bụng. Bác day ra nhà sau, kêu: – Phương, lấy thêm chén đũa, còn hai con cua rạch son con bỏ vô nồi luộc cho ba. Có tiếng dạ của Phương phía nhà bếp. Bác day qua hỏi ba tôi: – Xúc khá hôn anh? – Chừng mười mấy hai chục ký à anh – luôn tiện ba tôi hỏi – anh cho nhờ cái buồng thay đồ một chút. – Được, được, anh với thằng Cu vô trong kia kìa. Sau khi tôi với ba tôi thay áo, quần khô trở ra, chén đũa đã dọn sẵn. Tôi được cho ké một cốc rượu và đớp một con vọp đưa cay. Ba tôi kêu tôi ra nhà sau coi có chuyện gì mần cứ phụ. Tôi bèn đi ra nhà sau. Phương đương vo gạo ngoài sàn lãng, thấy tôi nàng cười cười. Tôi xớ rớ chưa biết phải làm gì, chợt thấy trên bếp, chảo tôm sôi ùng ục, bốc hơi nghi ngút, cạnh bên nồi cua cũng vừa lên bọt. Tôi hỏi trỏng: – Chảo tôm trở được chưa đây? Phương vừa chăm chú chắt nước cơm vừa nói: – Được rồi. Sẵn chiếc bù cào dựng bên vách, tôi cầm lên, dở nắp chảo tôm ra trộn. Trở tôm xong, tôi day qua trở luôn nồi cua. Lúc đó Phương bưng nồi cơm vô bắc lên chiếc lò bên cạnh, chụm thêm mấy cây củi, kê miệng thổi một hơi, lửa phựt lên. Nàng day ngang bưng nồi cua xuống, bỏ cua ra dĩa, bưng lên nhà trên. Tôi thấy tôm đã phồng vỏ vớt ra được rồi, nhưng còn chờ hỏi Phương. Khi nàng trở xuống, tôi hỏi: – Tui vớt tôm ra nghen? Phương ngó qua chảo tôm một cái, nói: – Ừ vớt đi. Nói vậy rồi nàng bỏ đi ra sàn lãng đánh vài rổ cá bóng dừa... Hai người lớn vẫn ngồi nhậu lai rai nói chuyện đời. Một lát sau cơm cá chín. Phương dọn lên mời tất cả cùng ăn. Miệt nầy có câu ‘thấy ăn thì ăn, thấy mần thì mần’ là vậy đó. Trước đây hai nhà chỉ quen biết sơ sơ, nhưng nhờ lần đụt mưa hôm đó mà đôi bên thân nhau. Có dịp đi ngang rạch Vinh làm gì làm ba tôi cũng ghé thăm bác Ba nhậu vài cốc. Còn bác qua chợ, thế nào cũng ghé lai rai với ba tôi. Hổng biết hai ông bàn tính làm sao. Mùa động nam năm kế, ba tôi kêu tôi lại, ông nói: – Năm nay mầy qua rạch Vinh phụ bác Ba, chuyện xúc tôm để tao với anh Bảy mầy lo. Tôi hỏi: – Chừng nào ba? – Chiều mơi. Ngay ngày hôm sau, tôi bắt đầu một nghề mới. Tôi xếp mấy bộ quần áo, bỏ vô chiếc nóp, cuốn lại cẩn thận. Lúc tôi sửa soạn dồ đạc, má tôi tới ngồi cạnh bên, giọng bà từ tốn dặn dò: – Con qua bển lạ nước, lạ cái, chuyện nào hổng biết thì hỏi bác Ba, đi đứng dòm trước ngó sau, ăn coi nồi, ngồi coi hướng, chớ có luông tuồng như ở nhà mình hổng được đâu nghe con. Tôi ngỡ vì lần đầu mần ăn ở lại nhà người ta, nên má tôi mới dặn kỹ như vậy. Nhưng sao giọng nói bà cảm động giống như hồi dặn chị tôi trước ngày gả theo chồng quá? Tôi không biết nói sao, cứ dạ dạ rồi ngồi thừ, cho tới khi nước trở ròng, Phương chèo xuồng ra chở tôi vô rạch Vinh. Miệt nầy trai gái mới gặp nhau lần đầu hỏi thứ để dễ xưng hô. Khi quen biết rồi gọi bằng tên cho thân mật. Tôi tên Cu, tên xấu háy, vì dầm mưa dãi nắng da đen thui, nên bà con gọi tôi là Cu Đen. Hổng lẽ nói chuyện với nhau Phương cứ kêu tôi Cu nầy Cu nọ, nghe kỳ cục quá. Vì vậy nàng vẫn giữ như ban đầu nói trỏng, hoặc gọi thứ thay tên. Những ngày trong rạch Vinh, ban đêm tôi bơi xuồng theo bác Ba dỡ đó. Ban ngày thăm lại những tấm đăng. Tấm nào rách ít bện lại tại chỗ, còn rách nhiều kéo lên thay tấm khác. Ngoài ra tôi còn phụ quơ củi, chẻ củi, đập tôm. Lắm khi không có chuyện mần, Phương rủ tôi vô rừng chặt củ hủ chà là, hái bần, bình bát hoặc làm móc đi kiếm vạt cò móc trứng. Có hôm bác Ba dẫn tôi đi bắt vọp, bắt cua. Lội qua một trảng nước rộng, mực nước ngang đầu gối, trong làn nước phè lên những bọt trắng giống như con sứa bám trên mặt bùn, bên trong có nhiều chấm nhỏ li ti đen óng ánh. Tôi bẻ nhánh cây định vít bọc lên coi. Bác Ba liền ngăn: – Ê! Coi chừng bể, bọc tôm đó. – Bọc tôm? Thấy tôi lớ ngớ chưa biết, bác dừng lại giải thích: – Những bọc nầy là trứng tôm còn non, chừng nào già bọc bể ra... Bác chỉ tay xuống một bọc... Nè con thấy hôn, mỗi chấm li ti trong bọc là mắt tôm, tôm nầy do đất sanh nên người ta mới gọi là tôm bạc đất. Bác nói vậy tôi nghe vậy chớ biết ất giáp gì đâu. Nhưng theo tôi được biết tôm càng, tôm gai, tôm bầu... có ôm trứng dưới dạ bụng. Riêng các loại tôm bạc không thấy trứng bao giờ. Hồi tôi học quốc sử lớp ba, có đọc chuyện ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, ăn ở với nhau sanh bọc trứng nở trăm con. Còn bọc tôm ở đây lủ khủ, lớn bằng cái mâm, nhỏ bằng chiếc nấm. Nếu y như lời bác Ba nói, một bọc sẽ nở ra hàng ngàn con, hơn bọc trứng của bà Âu Cơ nhiều lắm. Có lẽ nhờ tôm bạc đất sanh sôi nẩy nở nhiều như vậy, nên mấy ngày nước sổ, đôi khi tôm nổi lềnh bềnh mặt nước, chúng giơ râu tràn vô đó ào ạt. Sợ bể đó, bác Ba tháo đăng, day miệng hom lại cho luồng tôm đi trớt ra ngoài. Sau đó, hai bác cháu mới nhảy xuống khiêng nguyên cái đó vô bờ, lăn lên chớ rinh đó như bình thường hổng nổi. Tôm bạc đất màu hơi xanh, vỏ mỏng, đúng lứa lớn cỡ hai lóng tay út. Vì sanh ở đầm, tràn nước lợ nên thịt tôm ngọt, luộc phơi khô màu đỏ tự nhiên. Nhờ vậy tôm bạc đất làm khô bán mắc tiền hơn tôm biển.
Hồi hôm dỡ đó được mấy con cua rạch son, trong bữa cơm sáng, hai bác cháu luộc nhậu vài ba cốc. Tôi say ngà ngà, lăn ra bộ vạc đánh một giấc thẳng cẳng... Nhớ hồi nằm ngủ không có mền gối gì hết, nhưng mở mắt ra gối kê đầu, mền phủ lên tới ngực. Tôi rùng mình trở dậy, ngó dáo dác không thấy ai ở nhà, tự nhiên lòng lo sợ vu vơ. Phải ngồi định thần một lát cơn sợ mới trôi qua. Tôi ngó ra dòng rạch, không thấy một bóng xuồng. Nắng đã nhạt, trời xế chiều rồi. Tiếng chim vang dội khu rừng, con kêu cạc cạc, con ùng ục, con chét chét... lôn xộn không nhịp nhàng gì hết, nghe buồn chín ruột, chín gan. Không hiểu sao bác Ba và Phương sống được với cảnh nầy? Lòng tôi đương hoang mang trong cảnh rừng chiều vắng vẻ, chưa biết phải làm gì, bỗng nghe tiếng Phương ngân nga ở phía sau nhà: – Đố ai quét sạch lá rừng, để tui khuyên gió gió đừng rung cây... Đố ai nằm ngủ không mơ... Giọng hát ngọt ngào, nương theo gió, xóa tan nỗi buồn vô cớ ở trong lòng. Tôi bước xuống, đi ra chái bếp. Trên chiếc chõng, rổ cá bóng dừa đánh vảy sạch sẽ, để cạnh thau tôm bạc đất cũng rửa sạch. Nồi cơm trên lò đã cạn, củi, than trong lò được gạt bớt ra. Sẵn cái ca úp trên đầu cây cắm bên khạp da bò, tôi lấy múc một ca nước súc miệng, luôn tiện múc thêm một ca, ngửa cổ lên nốc ừng ực một hơi đã khát. Tôi bước ra phía sau nhà, thấy Phương đương lui cui hái trái dác. Tôi đến bên đít mà nàng hổng hay, cứ ngâm nga ca vọng cổ. – ... Bốn mùa bông cúc nở xây, thử coi trời đất bắt duyên nầy dìa ai... ơ. ơ... Chờ nàng dứt câu, tôi nói: – Dìa tui nè chớ dìa ai. Phương dựt mình ngó lên, tay chận ngực, quát: – Cái anh mắc dịch, mần người ta hết hồn hết vía hà! Sau khi hoàn lại ‘hồn vía’ nàng bẽn lẽn cúi mặt, tay trộn trộn những chùm trái dác. Tôi bèn giả lả cầu hòa: – Xin lỗi, tui giỡn chơi. – Hứ, giỡn gì mà kỳ cục. Phương xốc xốc rổ trái dác, nhắm chừng nấu đủ nồi canh, nàng đứng dậy đi vô. Tôi men theo, hỏi: – Bác Ba đâu rồi? – Ba tui qua chợ câu tôm. – Ủa, bác dìa bển sao hổng rủ tui cà? – Tại anh ngủ mê quá... Ngập ngừng một chút nàng tiếp: "Hồi sớm thấy trời nắng tốt, ba tui dặn, chừng nào anh thức kêu anh bửa củi phơi, nhưng thấy anh ngủ ngon quá tui hỏng kêu. » Tôi gãi đầu nhăn nhó, tìm cách bào chữa: – Đã vậy còn đắp mền kê gối cho tui nữa, làm tui ngủ mê như chết, bây giờ bửa củi ra nắng đâu nữa mà phơi? – Xí, đợi bửa chắc phải chẻ ống quyển ra chụm trước. Tui bửa hết rồi... – nàng chỉ tay qua đống củi ở góc sân – ... anh lợi đẳng ôm vô dùm cái coi, hổng ấy trời mưa xuống ướt hết bây giờ. Tôi ngó mặt lên nhìn trời. Ở hướng Tây mây đen cuồn cuộn chuyển. Mấy trống chưn che khuất nửa mặt trời, còn một nửa chiếu ánh hào quang ra tạo thành cái mống cụt ngủn vắt ngang phía Nam. Mống dài trời nắng, mống ngắn trời mưa. Tôi chỉ tay qua hướng Nam, kêu: – Cô Phương! Nàng ngoái lại: – Gì đó? Tôi chỉ tay lên cái mống: – Kìa, cô coi kìa. – Tưởng gì, cái mống mà cũng lạ dữ? – Ê! Mống chuồng là... muốn chồng! – Xí, vô duyên! Nàng mắng nhẹ tôi một cái, rồi bưng rổ trái dác đi le te vô nhà. Tôi đi qua đống củi, gom lại, ôm vô sắp ngay ngắn dựa bên vách bếp. Phương quần quật suốt ngày, vậy mà bếp núc nàng lo rất chu đáo, tôm cá dưới rạch, rau cỏ trên rừng, nàng đem về chế biến thành những món ăn ngon. Chiều nay Phương nấu canh chua trái dác với cá bóng dừa, món mặn có tôm rang muối, tóp mỡ, tỏi, hành. Ngoài trời cơn mưa chiều bắt đầu rớt hột, tôi ôm củi vô cũng vừa xong. Phương bận tay bếp núc, nên nàng day qua kêu tôi: – Anh Chín, ra đẩy máng xối qua miệng khạp hứng nước rồi khép cánh cửa lợi dùm tui cái coi. Tôi đi ra đẩy máng xối, khép cửa lại. Trời im gió, mưa thẳng giọt. Sóng biển mọi hôm vang tiếng rầm rầm, chiều nay dịu bớt nghe lào xào. Có lẽ trời trở đồng chung nay mai. Như thường lệ, nấu cơm xong, Phương bới cơm, múc cá đem lên bàn thờ cúng bác gái. Hôm nay vì bác trai qua xã chưa về, nên sau khi dọn cơm cúng, nàng lấy mẻ un ra nhúm. Trong lúc chờ cơm tôi ra trước nhà ngồi khoanh tay rế. Ngoài trời mưa đã tạnh. Những chiếc xuồng bắt ba khía đêm nay đi đồng trong ngọn rạch Vinh, khua dầm, khuấy nước lần lượt lướt qua. Họ kháo chuyện ỏm tỏi. Tiếng một gã thanh niên hô to: – Cô Phương ơi tui thương cô quá chời quá đất cô ơi!!! Tiếp theo là giọng một đứa khác: – Bác Ba ơi! Cho tui mần rể bác ơi bác ơi!!! Tiếng đứa nào đó thô lỗ hơn: – Ông già ơi hỡi ông già, có con hổng gả đốt nhà ông coi!!! Những câu chọc ghẹo tương tợ, tiếng cười rộ dưới dòng rạch vang dội lên khu rừng. Tôi áy náy ngó qua Phương, nhưng mặt nàng vẫn điềm nhiên. Nàng nói nhỏ với tôi: – Lần nào đi ngang, họ cũng chọc tui om xòm trời đất. – Bộ Phương hổng tức mình sao? – Hồi đó tức lắm, tui mới chửi họ, nhưng ba tui kêu tui vô rầy. Ông nói, làm hoa phải cho người ta ngắm, làm gái phải chịu cảnh người ta chọc ghẹo, chớ dữ như chằng tinh gấu ngựa ai thèm dòm. Dân miệt nầy, có gái tới lứa, người ta ví như hũ mắm treo đầu đẳng, đêm ngày canh giữ chằng chằng. Còn bác Ba dạy Phương nên mở rộng tấm lòng, cần có óc vị tha với mọi người. Tuy nhiên, bác cũng có lý của bác! Nguyên do Phương mỗi ngày một lớn, lại ở nơi hẻo lánh, cũng cần giữ tánh nết đàng hoàng cho người ta chú ý. Nhiều hôm hai đứa bơi xuồng vô rừng quơ củi, Phương bận áo bà ba trắng, gặp mưa ướt, áo bó sát thân người, để lộ cặp vú vun tròn như hai trái bần ổi. Trước mắt tôi, mà nàng vẫn tự nhiên, không tỏ vẻ mắc cở gì hết. Tiếng động khua nước, tiếng nói, cười của đoàn người bắt ba khía xa dần rồi im bặt. Dòng kinh trở nên im lặng như tờ. Trên cây bần de ra dưới mé rạch, bầy đom đóm bu đầy, nhấp nha nhấp nháy, nhịp nhàng theo hơi thở, giống như muôn ngàn vì sao hội. – Cô Phương ơi! Phương vừa thổi bếp un, khói lên cay, làm nước mắt chảy ràn rụa. Nghe tôi réo, nàng ngước lên: – Gì vậy? Tôi chỉ cây bần dưới dòng rạch, nói: – Sao mà đom đóm tụ lợi có mình ên cây bần vậy? – Tại đom đóm thích mùi cây bần. Phương trả lời gọn bân rồi lui cui bưng bếp un để giữa nhà. Sau đó nàng lại ngồi kế bên tôi. Bỗng nhiên Phương giơ tay lên vỗ mạnh xuống bắp vế tôi cái chát. Nghe bắp vế ê ẩm nhưng đã ngứa, tôi dòm xuống thấy cả chục con muỗi dẹp như cốm dẹp, máu dập đỏ lòm. Bàn tay Phương cũng dính máu, nàng chùi tay vô ống quần lãnh đen, rồi ngước lên nói: – Anh lấy quần dài bận vô, hổng ấy muỗi cắn chết. Ở rừng là vậy, sau cơn mưa chiều muỗi, bù mắt kêu vo vo, bay như trấu vảy. Tôi đứng dậy đi qua vách buồng, lấy chiếc quần ka ki tròng vô. Một cơn gió lướt ngang làm cây cối vang tiếng lào xào. Phương nói: – Gió nồm. Phải rồi! Trời phân phất gió nồm, báo hiệu mùa đồng chung gần tới. Vậy là tôi sắp sửa về nhà. Tính ra tôi vô đây non hai tháng rồi. Tuy cảnh rừng nơi đây buồn lắm, nhưng sao lòng tôi quyến luyến không nỡ rời chưn. Dạ tôi bồi hồi, tim tôi xao động... Tôi ngồi xuống bên Phương, cầm tay nàng. Nàng vẫn để nguyên cho tôi nắm. Tôi lấy hết can đảm mở lời: – Phương... – Gì? – Mình... mình thương nhau đi! Tay nàng vẫn để trong tay tôi mặt ngó ra dòng rạch, trả lời: – Ừ, thương thì thương. Dễ ợt! Vậy mà tôi cũng là cà lập cập cho mất thời giờ. Phải xa lạ gì đâu, đằng nầy tôi đã từng nắm tay Phương dắt qua mương, kéo lên xuồng, giỡn hớt, ôm nhau mỗi khi đi rừng, tắm rạch... Nhưng lúc đó lòng tôi hổng có rạo rực như bây giờ. Hình như Phương cũng vậy, xích qua gần hơn, rồi nàng dựa người sát vô người tôi. Được trớn, tôi ôm chặt Phương. Nàng quằn quại như con chồn mướp. Một nụ hôn đầu được đặt lên má người yêu làm tôi ngây ngất. Tay tôi táy máy rứt hàng nút bóp áo bà ba của nàng bật ra tanh tách... Chợt nghe tiếng xuồng lụp cụp đậu vô bến. Tôi giựt mình buông Phương ra. Nàng hốt hoảng ngồi dậy như chiếc lò xo bung, tay gài nút áo, chưn bước nhanh vô buồng. Tôi đứng dậy đi thẳng xuống bờ rạch, miệng hô lớn cho đỡ ngượng: – Bác Ba dìa! Phương lấy lại bình tĩnh lót tót đi ra. Tôi bồi hồi như tên ăn trộm chưa cắp được đồ đã gặp chủ nhà. Định lên tiếng giả lả tự trấn an, nhưng bác Ba đã nói giọng nhừa nhựa: – Thằng Cu Đen đó hả? – Dạ con đây. – Mày sửa soạn đồ đạc dìa ngoải, ngày mơi còn đi cào đi cấu, chứ người ta mới dặn ba mầy hồi chiều đó. Nói dứt câu bác trợt chưn té cái đụi, giỏ đồ cầm tay văng một bên. Tôi lật đật bước tới đỡ bác dậy. Phương vô nhà bưng đèn ống khói vặn tỏ ngọn, ra ngoài rọi đèn lượm giỏ đồ và những món lỉnh kỉnh. Tôi kè Bác Ba lên. Vừa đi theo tôi bác vừa nói: – Hồi chiều ghé nhà, tao với ba mầy mần hết cả lít. Tao muốn quắc cần câu, vậy mà ảnh còn chưa muốn cho tao dìa nữa. Tôi đưa bác ra sàn lãng rửa mình. Sau khi sạch sẽ, thay đồ khô ráo, bác lên nằm trên bộ vạt phía trước. Phương xuống bếp hâm lại cơm, canh. Tôi phụ dọn chén đũa ra chiếc chõng... Khi Phương lên mời ba nàng ăn cơm, thì đã nghe ông ngáy khò khò... Sẵn đó nàng bỏ mùng, tấn cho bác cẩn thận. Xong xuôi, nàng trở xuống ăn cơm với tôi. Trong lúc ngồi ăn cơm, Phương nói chuyện mà mặt cứ ngó đâu đâu. Để bầu không khí bớt trơ trẽn, tôi định gắp tôm bỏ qua chén cho Phương. Nhưng khi thò đũa gắp lên một cái, mèn ơi! Tôi gắp nhằm chùm râu kéo theo cả chục con tôm tòn ten trên đầu đũa. Tôi gặt gặt mà mấy râu tôm ôn dịch dai nhách hổng chịu rớt xuống dùm. Phương đưa đầu đũa phụ gạt xuống mới xong. Sau đó nàng bắt chuyện, kể: – Hồi đó có hai anh làm rừng. Tới bữa cơm chiều, một anh có cơm nhưng không có đồ ăn. Thấy anh bạn rang một nồi tôm để nguyên đầu, anh ta hỏi mượn một đũa. Anh bạn giở nồi đưa cho mượn, anh kia thò đũa quậy một cái, gắp lên chùm tôm đủ một bữa ăn. Hôm sau anh kia kiếm được tôm đem về rang, bưng qua trả anh kia một đũa. Anh nọ thò đũa qua gắp một cái, chỉ vẻn vẹn có một con tôm. Té ra trước khi rang, anh kia cắt đầu tôm trụi lủi. Anh bạn đòi thêm, nhưng anh kia hổng chịu, nói: "Hôm qua mượn một đũa thì hôm nay trả một đũa". Anh bạn tức mình, nhưng cãi hổng được. Từ đó về sau ai rang tôm cắt đầu sẽ bị bà con chê là bợm bãi. Câu chuyện tôi đã nghe nhiều lần. Tuy nhiên trong lúc nầy nó xóa tan được sự ngại ngùng. Tôi ăn cơm thiệt ngon. Bây giờ tôi mới thấu hiểu câu má tôi căn dặn hồi tôi sửa soạn vô đây ‘ăn coi nồi, ngồi coi hướng’ như thế nào. Ai vô miệt nầy mần rể, ăn tôm rang, hãy coi chừng! Vô ý vô tứ, thò đũa gắp nhằm chùm râu tôm, coi lơ mơ vậy đó, mà mất vợ như chơi! Tụi tôi vừa ăn cơm vừa nói chuyện rù rì... Đến khi nghe chồn, cáo thừa đêm tối rục rịch bò đi săn mồi, và tiếng thét của con vật nhỏ xấu số nào bị con thú lớn vồ được. Hai đứa ai nấy nhìn nhau, lua vội miếng cơm cuối cùng. Rồi bước xuống, dọn chén, đũa bưng ra sàn lãng rửa. Dọn dẹp xong, Phương vô buồng ngủ. Tôi lật nóp ra chiếc chõng, chui vô. Nhưng cứ trằn trọc trăn trở không sao chợp mắt. Lại thêm cơn mưa đêm ác nghiệt kéo tới đổ lên mái lá rào rào, nghe cồn cào trong dạ. Có lẽ Phương cũng khó ngủ, nên chốc chốc tôi nghe tiếng trở mình, động vạt cọt kẹt bên trong. Vài lần muốn chui vô buồng nằm với nàng, nhưng ngặt nỗi bác Ba ngủ cách chỉ một tấm vách. Ông già nầy coi say rượu như vậy chớ thính tai vô cùng. Chồn xuống bắt cá trong ruộng ngâm dưới rạch, ông còn nghe nữa. Huống hồ chun vô mùng mò con gái ông bất hợp lệ, chết với ông chớ hổng chơi! Sáng hôm sau Phương chèo xuồng chở tôi về nhà. Tôi có một chút thắc mắc trong lòng. Sao bác Ba hổng tính sổ chia chác tiền bạc cho tôi? Gần hai tháng công đâu phải ít. Thắc mắc vậy thôi, chớ thiệt ra ba tôi đứng mũi chịu sào trong vụ mần ăn nầy, chuyện gì từ từ hãy tính. Dẫu sao chuyến nầy vô đây tôi cũng hổng lỗ, vì tôi đã o được con gái bác. Có ở thêm ba năm cũng chẳng nhằm nhò gì, nói chi chỉ mới gần hai tháng...
Về nhà tôi bị thất tình. Những đêm ra bãi, tôi mần việc mà hồn để tận rạch Vinh. Mong cho mau hết con nước, tôi vô thăm Phương. Thiệt ra tuổi đó tôi muốn vợ tới ót rồi. Nhưng ngặt một điều, anh kế tôi còn khù khờ quá, đã trên hai chục tuổi, gặp gái sợ đến nỗi mặt xanh như tàu lá, hỏi tới run như thằn lằn đứt đuôi, nói năng lập cà lập cập. Hễ nghe gia đình bàn chuyện cưới vợ cho thì ảnh cự nự om xòm trời đất, như sắp bị tử hình. Vì lẽ đó tôi có muốn vợ cũng đành chịu chớ đâu dám mở miệng đòi. Nhưng buổi trưa nọ, một cách nghiêm trang má tôi kêu tôi lại, giọng bà từ tốn cũng y như hồi tôi cuốn nóp qua rạch Vinh: – Hôm con vô ở nhà anh ba, con thấy con Phương thế nào? Tuy mang một bầu tâm sự, nhưng bị bà hỏi bất ngờ tôi đâm lúng túng, nói: – Dạ... thì... cổ cũng hiền. Má tôi họa thêm: – Chẳng những con Phương hiền mà nó còn giỏi dàn trời. Nhà cửa, tôm cá do một tay nó đó. – Ờ con biết. Má tôi dịu giọng: – Ba má định đi hỏi nó cho con đó, con chịu hông? Tôi mừng đến đỗi bụng dạ nôn nao, nhưng cố dằn, nói giọng phân hai: – Thì... ba má tính sao được thì tính. – Nhưng con chịu nó hông cái đã? – Ừa... chịu! Chỉ có vậy thôi mà tôi phải lấy hết can đảm nói lí nhí một cách khó khăn rồi bỏ đi ra ngoài. Cuộc thăm dò ý kiến của má tôi coi như xong. Còn chuyện giữa hai bên có ba tôi với bác Ba. Hai ông già gặp nhau hà rầm, nhậu vô vài ba hột, bàn vụ cưới hỏi, khỏi cần mai mối gì ráo. Bác Ba khen tôi siêng năng, giỏi, chịu khó. Bác nói: – Cái thằng mặt mày coi bậm trợn vậy mà hiền khô. À! Thì ra mấy người lớn toa rập với nhau, đưa tôi qua rạch Vinh để cho bác Ba coi giò, coi cẳng... Té ra tôi vô ở rể chớ hổng phải đi mần ăn như đã nghĩ. Bắt đầu từ đó hai bên coi như như sui gia. Bác Ba dễ dãi, cho hai đứa gặp gỡ, trò chuyện tự nhiên, nhưng bác dặn: – Tao cho tụi bây đường đường chánh chánh gặp nhau, còn chuyện gì khác chờ cưới hỏi xong đã. Chớ có lạng quạng bậy bạ tao đập chết đa! Ðiều này bác Ba khỏi cần dặn. Ở miệt nầy chưa cưới hỏi mà tự do đi chơi với nhau, thỉnh thoảng thừa lúc vắng người ôm nhau, rờ rẫm, hun hít... được vậy là quá mạng lắm rồi chớ dám đâu lạng quạng bậy bạ.
Má tôi mua một bầy vịt con và con heo vừa dứt sữa đem về thả nuôi, gà ở nhà lúc nào cũng sẵn. Cuối con nước, dư chút đỉnh tiền bà ra chợ mua vải để dành, dự định chừng nào có tiền sẽ mua đôi bông tai. Đó là những thứ cần thiết bà để dành cưới vợ cho tôi. Hết con nước tôi thường vô thăm Phương. Còn nàng mỗi lần ra nhóm chợ, khi chợ tan, ghé nhà ăn cơm, ở lại chơi tới xế mới về. Tôi tiễn nàng bằng cách xuống xuồng chèo tiếp tới đầu xóm. Trên đoạn sông đưa tiễn, tôi bắt chước lời mấy bà ru con trong xóm, ngâm nga: "Gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm". Câu hát đưa con ấy rất hợp với tình cảnh hiện thời. Nàng xúc động nhìn tôi đắm đuối. Tôi sung sướng vô cùng, mong cho con nước ngược để xuồng chậm lại. Nhưng chuyện nầy không bao giờ xảy ra, vì mỗi khi mãn con nước luôn nhằm ngày nước chết. Cho nên buổi tiễn đưa nào tôi cũng thấy thời gian đi nhanh quá! Tình yêu đầu đời tới một cách suông sẻ. Tôi dự tính, sau khi cưới Phương, vợ chồng sẽ xin ba má cất một ngôi nhà lá bên bìa rừng. Ở với nhau làm lụng kiếm ăn, sanh con đẻ cái như bao cặp vợ chồng trẻ khác trong vùng. Nếu không có chuyện thời cuộc đổi thay thì hạnh phúc sẽ đến với hai đứa tôi rất tự nhiên như ngọn gió nồm của mùa đồng chung năm ấy. Nhưng năm 1978, cái năm mà hầu hết các miệt biển trên quê hương tôi, mỗi đêm đều có người bỏ nhà, ghe bỏ bến ồ ạt chạy đi tị nạn Cộng sản... Tôi cũng ra đi trong đợt đó. Bỏ lại gia đình, bầy vịt chưa đủ lông, con heo chưa đúng tạ và người vợ sắp cưới, một niềm hy vọng lớn ở tương lai.
Thấm thoát đã hơn mười sáu năm, thời gian trôi nhanh thiệt. Hôm nay tôi trở về bên vàm sông cũ. Ba má tôi đã qua đời. Bác ba Đó cũng đã quy tiên. Hỏi thăm người ‘vợ hụt’ năm xưa, được biết nàng có chồng và đẻ một bầy con hiện vẫn còn ở bên rạch Vinh, mần nghề nuôi tôm xủ. Tôi định đón đò qua thăm Phương, luôn tiện coi cách nuôi tôm có giống người ta nuôi cá vồ, cá tra không. Nhưng chị tôi ngăn: – Người ta đã có chồng, con rồi, cậu mầy còn chàng ràng qua đó mần gì cho mang tai mang tiếng. Ban đầu tôi hơi ngỡ ngàng, nhưng chợt nhớ ra, đây là vùng ven, miệt biển, chớ không phải những nước bên tây phương. Dư luận dễ gây hiểu lầm, bị nghi ngờ bồ cũ không rủ cũng tới. Lơ mơ ăn dao phay chớ hổng phải chơi! Hồi tôi đi, mấy đứa cháu còn vọc bùn vọc đất. Bây giờ chồng con lủ khủ, tay bồng, tay dắt về thăm. Một đứa bắt con đứng trước mặt khoanh tay, dạy con nó nói: – Dạ thưa ông Chín. – !!! Tôi rùng mình một cái, thấy thời gian qua cái vèo. Có lẽ tâm trạng của lão Từ Thức ngày xưa chắc cũng chẳng khác gì tôi hiện giờ. Tôi cúi xuống bồng đứa cháu kêu bằng ông, nhưng nó sợ quá khóc ré lên, day ngang câu chưn má nó cứng ngắc. Trong gia đình máu mủ, ruột thịt với nhau còn lạ lẫm rồi. Huống hồ chi khắp xã nầy còn được mấy người quen? Tôi đi từ khu vực ba ra tới đầu khu một. Người đông như kiến cỏ, lạ hoắc lạ huơ. Thỉnh thoảng gặp vài người quen chào hỏi, người ta cũng ngần ngại không muốn gọi cái tên Cu Đen như ngày nào. Tôi đứng bên vàm sông, hướng đôi mắt buồn nhìn ra cửa biển. Ngoài khơi vài chiếc ghe đánh cá vật vờ, nhấp nhô. Dưới cảnh chiều, hòn Chuối vẫn như con lạc đà nằm trên dải nước xanh từ ngàn xưa cho đến bây giờ. Thoáng chút ngậm ngùi, ký ức quay về chuyện tình ngày cũ. ‘Gái thương chồng đương đông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm’ Tóc tôi bây giờ đã bạc gần một nửa, tâm hồn tôi không còn những ảo ảnh xa vời. Nhưng nhìn cảnh nắng quái chiều nay trải vàng trên sông rộng, làm sao tôi khỏi chạnh lòng thương nhớ cái dư vị ngày nào. Tuy người xưa còn đó, nhưng khác xa lắm rồi. Có còn chăng, dòng sông dài rộng thênh thang, bên bồi bên lở, mặt nước muôn thuở vẫn đều trời. Tôi đi theo bóng mình trở về khu chợ. Trời chiều, chợ cá còn lèo tèo vài mống. Có một cô gái nước da ngăm ngăm, mặt chữ điền, mắt to ngồi nhóm chợ. Tôi giựt mình đánh độp một cái! Sao mà giống hệt Phương. Dạ tôi bồi hồi, tim xao động. Nhưng nhìn kỹ... hổng phải! Phương của tôi ngày nào, có lẽ giờ đây đã cằn cỗi do sanh nở nhiều lần và nằm nhiều lửa. Còn cô gái ngồi đây mơn mởn trẻ măng. Thấy tôi đứng tần ngần trước mặt, cô ta mở to mắt, sửa lại thế ngồi, nhếch miệng cười, mời: – Bác mua tôm đi bác. Tôi giựt mình lúng túng, nói: – Ờ... tui mua... – Mua bao nhiêu bác? Tôi chỉ vô chiếc thau: – Cô cân hết cho tui. Cô gái lẹ làng nghiêng chiếc thau, tay vét gom tôm lại. Chiếc thau lớn, tôm còn ít ỏi, đủ gói trong chiếc lá chuối vấn kèn. Cô gái đưa gói tôm. Tôi vừa đón lấy vừa nói: – Tôm bạc đất mần khô ăn ngọt lắm. – Thôi đi bác ơi, tôm tép ở đây bây giờ hổng đủ bán tươi có đâu phơi khô làm mắm. Tôi tò mò muốn biết thêm chuyện nhà của cô gái, nhưng chưa kịp hỏi gì hết thì cô ta đã xách thau đứng dậy đi te te một nước. Chiều hôm đó tôi đem tôm về nhà. Nhờ chị tôi rang muối, mỡ, hành. Tôi còn cẩn thận dặn cứ để tôm nguyên đầu nguyên đuôi cho tôi. Tuy có cằn nhằn thằng em kỳ cục, nhưng chị cũng làm theo. Nhưng bữa cơm chiều hôm đó, dĩa tôm rang dọn lên râu ria lởm chởm, sắp chung với dĩa đồ xào, tô canh khoai ngọt trông thấy vô duyên quá cỡ. Không ăn ngại chị rầy rà, tôi cố gắp vài đũa, nhưng nhai xảm xảm, nuốt lợn cợn, ăn thêm sợ mắc cổ. Mặc kệ cho bà chị nhìn tôi cười chế nhạo, tôi cứ lờ dĩa tôm rang. Bà chị tôi nào có biết, thiệt tình mà nói, trong đời tôi chưa ăn được bữa tôm nào ngon như ăn tôm rang ở rạch Vinh hồi dạo ấy.
Nguyễn Lê Hồng Hưng
Copy right © 2002 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved |