Một Chút Hương
Quê
ĐÀO QUỐC BẢO
Cảnh Thu ở quê hương mình đẹp lắm, đẹp từ nét chấm phá thủy mạc :
Ao Thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo…
(Nguyễn
Khuyến)
Đẹp
từ hình tượng đơn sơ :
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...
(Lưu
Trọng Lư)
Nhưng
nếu kể về phong cảnh mùa Thu có tính cách rộng lớn thì suốt từ vùng cao
nguyên Lâm Viên ra đến miền Trung nối với vùng đồng bằng Bắc Bộ rồi lên
tuốt vùng Hoàng Liên Sơn kéo dài tới biên giới Trung Việt thì có cơ man
nào là cảnh Thu hùng vỹ, u trầm, đẹp não nùng. Nhưng tiếc thay, cảnh Thu
thường làm sao xuyến lòng người và trước cảnh Thu, con người có cảm tưởng
như già đi, nỗi buồn, nỗi nhớ từ đâu ập về.
Khi trời vào Thu, tuy không có " ngõ trúc quanh co khách vắng teo ", phong
cảnh ở Âu Châu cũng đẹp mê hồn, cũng đủ gợi nhớ cho Hân những kỷ niệm về
quê hương, về gia đình mà trong đó không thể thiếu những món ăn dân dã đầy
tình tự dân tộc. Những kẻ ly hương như Hân, người ta không nặng lòng về
hiện tại nhưng lại thiết tha với quá khứ hơn, đúng như nhận định của nhà
văn Vũ Bằng.
Hôm nay, sáng chủ nhật đầu Thu, trời nắng trong, Hân đạp xe đạp thay cho
chạy bộ thường ngày quanh vùng Vleuten De Meer cách nhà chừng 8 cây số.
Sau gần một giờ đạp xe, Hân thấm mệt, chàng ngừng xe tại ven một khu rừng,
có cây cao vút, có hồ nước bao quanh, không gian như trầm lắng dưới ánh
nắng hồng ban mai. Hành trang của Hân chỉ vỏn vẹn có một chiếc croissant,
một lon Coca và một cuốn sách có tựa đề Miếng Ngon Hà Nội của Vũ Bằng, một
nhà văn rất rành rẽ về tâm lý khách tha hương. Bên hồ Thu, dưới rặng cây
rừng thẳng tắp, lác đác lá Thu rơi, Hân ngồi nghỉ chân trên ghế đá để đọc
sách :
" Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở, một ít hành hoa
thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc, mấy nhát gừng mầu vàng
thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ mầu hoa hiên vừa đỏ xẫm như hoa
lựu...ba bốn thứ mầu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập
thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng mầu sắc hơi lố bịch,
hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.
Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng (ý nói anh phở Tráng) bấy giờ mới
thái thịt bò từng miếng bầy lên...Chỉ còn phải chan nước dùng, rắc một
chút hạt tiêu, vắt mấy giọt chanh... Thế là " Bài Thơ Phở " viết xong rồi
đấy, mời ông cầm thìa, húp một tí nước thôi, ông đã thấy tỉnh người rồi
phải không ?
Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới
ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của
gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt, thỉnh thoảng lại thấy
thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm,
thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm...rồi thì hòa hợp tất cả
những vị đó lại, nước dùng thì cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành,
ngọt một cách thành thực. Không, ông phải thú nhận với tôi đi. Có phải ăn
một bát phở như thế thì khoan khoái quá, phải không ?
Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể ề lâm ly " hơn là
nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu ; ăn một bát phở như thế thì
có thể ví như, sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong tay người vợ
đẹp mà lại đa tình vậy".
Đọc đến đây, Hân bỗng khựng lại vì sự chuyển động của cây rừng, những
luồng gió se lạnh xô đuổi những chiếc lá vàng đầu Thu cuốn đi như chạy
trốn, Chàng với chiếc áo field jacket khoác vội lên người rồi lại ngả lưng
trên ghế đá, phóng tầm nhìn ra hồ nước xa xa, nhưng thực sự, Hân vẫn loay
hoay với tô phở Tráng :
- Chỉ nghe tả thôi mà đã thấy thèm ! Ác độc thật ! Ngoài quê hương mình
ra, ta đào đâu ra một tô phở như thế này ? Hình thức trình bầy cho đẹp mắt
thì có thể được, nhưng phở chất lượng và hương vị thơm ngon như anh phở
Trọc của Thạch Lam, như anh phở Tráng của Vũ Bằng thì làm sao có được ở
hải ngoại ! Làm mình thèm muốn chết vậy đó !
Hân hồi tưởng lại những ngày xa xưa khi còn là cậu học trò. Nói về ăn
sáng, chàng chỉ thích những món ăn có nước dùng nhưng mê nhất là phở, có
thể nói là mê tít thò lò, mê như điếu đổ. Bạn bè mỗi khi nhắc đến Hân thì
nhắc đến phở và ngược lại, hễ nhắc đến phở là nhắc đến Hân, người thì xổ
nho xổ Hán : Phở đối với thằng Hân thì " Nhất nhật bất phấn như tam thu hề
" . Kẻ thì châm biếm có tính cách văn nghệ hơn : " Một ngày không có em là
lòng Hân tan nát... " Hân không buồn nghĩ đến đính chính hay giải độc tại
vì các bạn nhận xét quá ư là chính xác, vả lại, người ta nói nấu phở và ăn
phở là cả một nghệ thuật cơ đấy, vậy mê phở, phải lòng phở thì đã có sao
đâu ?
Vào những ngày tháng rong chơi, Hân chỉ có mấy việc là cắp sách đi học và
gõ đầu trẻ kiếm tiền tiêu vặt, tâm hồn vô tư, chưa vướng lưới tình.
Một ngày như mọi ngày : Để mở đầu cho một ngày mới, Hân phóng xe lên phở
Tầu Thủy ở Nguyễn Thiện Thuật. Vì là thân chủ nên Hân không phải gọi đặt
phở, chàng chỉ mới dựng xe, đã có tiếng gọi phở của mấy chú hầu bàn : Phở
cậu Hân nhé ! Tiếp theo có tiếng đáp nhận của bác hàng phở : Rồi, phở cậu
Hân có ngay ! Chờ không lâu, Hân đã tìm được một chỗ ngồi. Trong quán, bàn
ghế đã kín người, cũng may chưa có ai phải đứng chờ lấy tài. Mùi phở quyện
lấy mùi cà phê phin thơm điếc mũi làm cho hân cảm thấy đói tợn. Tiếng gọi
phở của mấy chú hầu bàn chát qua chát lại, chạy tới chạy lui : Bàn 5 một
nạm vè ăn thêm ! Một chén nước béo hành trần Bàn 2 ! Hai tái gầu ròn Bàn 8
!v.v...Mải nghe đối thoại náo nhiệt của mấy chú chạy bàn, phở của Hân đã
được bưng lên : thật đúng ý ! Bánh phở to sợi mà mỏng, không nát ; thịt
thái to và mỏng : nào gầu ròn, nạm vè và thịt tái, nước béo, hành trần,
nước dùng ngọt thịt và trong. Hân chỉ còn rắc chút tiêu, nặn miếng chanh,
ra thêm chút tương ớt, ngắt vài lá húng cây là có thể phục vụ thần
khẩu...Ăn xong,chàng kêu ly cà phê phin uống cho tiêu thực và " gôm " đi
mùi gây của mỡ bò.
Phải là khách quen mới biết được sinh hoạt của phở Tầu Thủy : Chủ quán phở
là của Ông bà chủ già, răng đen, hút điếu cầy xòng xọc, có mấy thằng con
trai hầu bàn. Khâu cà phê giải khát lại do cặp vợ chồng khác mà Hân quên
không nhớ tên, hơi trẻ hơn, đảm trách. Ông này lại uyên bác về tướng số
tử vi, cà phê phin lại ngon, cho nên được nhiều ẩm thực khách mến mộ. Đây
cũng là một yếu tố làm cho Phở Tầu Thủy đông khách thêm.
Khoảng 10 giờ sáng hết phở, quán đóng cửa. Ông bà chủ cà phê về nhà
riêng, cũng ở trên đường Nguyễn Thiện Thuật nhưng ở trong hẻm gần phía
Hồng Thập Tự mở cửa bán cà phê giải khát ngay tại nhà cho đến khuya lắc
khuya lơ. Khách đến uống cà phê phần nhiều là mê tử vi tướng số.
Những khi có hẹn bạn bè hay có công việc vùng Ngã Bẩy, Nguyễn Tri
Phương...Hân và các bạn lại ghé phở Tầu Bay ở Lý Thái Tổ, gần nhà thờ Bắc
Hà (nếu Hân không lầm). Nghe nói phở Tầu Bay xuất xư ùtừ Hà Nội, 1954 di
cư vào Nam. Hàng quán tọa lạc trên đường Lý Thái Tổ gồm 2 gian lợp tôn
thấp lè tè, bên hông phải được nới ra thêm một chái chạy dài theo con hẻm
có thể kê thêm được vài chiếc bàn theo kiểu quán cóc, tuy nhỏ nhưng cũng
đỡ cho khách bớt phải đứng chờ.
Ở đây, chủ tớ không kêu tên khách hàng mà chỉ kêu bằng số bàn. Đặc điểm
của phở Tầu Bay là bánh phở và thịt được bầy sẵn trong tô, những tô xe lửa
trông mà phát khiếp và được sắp la liệt trên quầy. Khách gọi thì tùy theo
yêu cầu mà thêm bớt bánh thịt, điểm hành ngò rồi chan nước dùng. Phở ở đây
bánh nhỏ, thịt thái to và dầy, hơi thô kệch. Nước dùng không trong lắm,
thơm nhưng vẫn chưa khử hết được mùi gây. Phở thuộc loại " ăn chắc mặc bền
" . Thực khách ngồi ăn thấy thoáng và thoải mái hơn một vài nơi khác,
nhiều khi còn được ngắm những tà áo mầu tha thướt đi lễ nhà thờ.
Nếu phải lượng giá để xếp loại thì Hân xếp Phở Tầu Bay đứng sau Phở Tầu
Thủy.
*
Những ngày nghỉ cuối tuần, Hân và các bạn thường hẹn gặp nhau ở một tụ
điểm trong khoảng từ sáng đến trưa : Đó là nhà hàng Pôle Nord sát cạnh
thương xá Tax, góc đường Lê Lợi Nguyễn Huệ. Để đến điểm hẹn, thủ tục đầu
tiên của mấy anh em Hân là ghé Phở Bà Dậu ăn sáng.
Phở Bà Dậu tọa lạc trên đường Công Lý, ngay trong cư xá công chức loại B,
gần ngã tư Công Lý Yên Đổ, do đó Phở Bà Dậu còn được gọi là Phở Công Lý.
Quán phở là một căn hộ trong một dãy gồm mười mấy căn, nằm trong cùng của
cư xá, tường xây gạch papin, mái lợp fibro-ciment giữ nhiệt được nâng cao
lên cho thoáng. Từ nhà trong ra đến nhà ngoài không có tường ngăn và được
kê hai dẫy bàn dài, chỉ chừa một khoảng trống trong cùng làm bếp nấu phở.
Ngoài sân, chừa ra chỗ để xe cho thực khách, được kê thêm những chiếc bàn
nhỏ để bán cà phê giải khát.
Khi mấy anh em Hân đến, cũng còn vừa đủ chỗ, may mắn không phải xếp hàng
chờ lấy tài. Hai dẫy bàn dài thế mà gần như không còn chỗ trống, mấy chú
hầu bàn phải đi năn nỉ dồn chỗ. Mùi nước dùng phở thơm phức, thơm đến điếc
cả mũi, một mùi thơm tinh khiết đúng mức, đúng tiêu chuẩn...Người ta gọi
là phở Bà Dậu nhưng thật ra có những hai bà, răng trắng, ăn vận bộ cánh
tráng tân thời, nói giọng Bắc thành thị. Bà Dậu có lẽ là xếp sòng, nhưng
bà nào là Bà Dậu đây ? Thắc mắc một chút cho vui thôi, chứ thật ra, bà nào
là bà Dậu cũng được, Hân cũng như thực khách, chỉ cần phở Bà Dậu ngon nhức
nhối là ô kê. Những tô phở theo yêu cầu đã được đặt trước mặt anh em Hân :
Nạm vè, nạm gầu ròn, thịt tái, chín sụn, nói chung, các loại thịt được
thái thật mỏng rất tỉ mỉ bầy biện trên nền xanh mướt của hành ngò, hành
chần, điểm xuyết vài khoanh ớt đỏ xậm, nước dùng trong trong mầu hổ phách
như đỡ lấy, như dâng lên cả khối mầu sắc làm tăng trưởng sự thèm muốn của
thực khách vậy. Hân cảm thấy thật khó diễn tả hơn, nên mượn mấy giòng thơ
của Tú Mỡ để bổ khuyết :
Này
bánh cuốn, này thịt bò
Này nước dùng sao nhánh mỡ
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm ớt điểm thêm
Khói nghi ngút đưa lên thêm điếc mũi
Như xúc động tới ruột gan bàn phổi
Như giục khơi cái đói của con tì
Dẫu sơn hào hải vị cũng khôn bì.
Xơi một bát thường khi chưa thích miệng !
Trước 75, phở Bà Dậu được đánh giá là ngon nhất Sài Thành. Như vậy, Phở
Tầu Thủy xuống hạng nhì và dĩ nhiên phở Tầu Bay tụt xuống hạng ba và nếu
như không chau chuốt o bế nồi nước dùng thì có nguy cơ trụt xuống thấp
nữa, bởi vì những người ghiền phở rất tinh và rất khó tính.
Ăn gần hết, Hân gọi một chầu tô nhỏ ăn thêm. Không phải chết đói đâu mà
quý bạn cười ! Chúng tôi có khỏe mới ăn được nhiều ! Và phở có ngon thì
mới thế chứ !
Ăn xong, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, bọn Hân vội thoát ra ngoài sân , tuy khí
hậu Sài Gòn đâu có mát, trên dưới 30 độ C, vậy mà Hân cũng cảm thấy hạnh
phúc. Chemise Nylfranc mỡ gà, quần Terrylaine mầu beige, đôi mocassin bằng
peau de dain mới sắm: nguyên bộ đồ vía láng xì cún bị bết bát mồ hôi, thật
mất sướng ! Hân mơ ước một ngày nào đó, dọn về ở gần Công Lý hay Yên Đổ gì
đó để được mỗi sáng mặc pyjama thả bộ sang ăn phở Bà Dậu rồi về tắm rửa
thay đồ xịn đi bát phố thì tuyệt biết bao ! Cà phê Bà Dậu cũng khá nhưng
không đủ làm hạ nhiệt cho thực khách, bọn Hân tìm đường lên ề Bắc Cực "
giải nhiệt và gặp bạn bè. Gọi một tách café liégeois, ngả lưng trên ghế da
trong phòng lạnh, vừa ngắm bàn dân thiên hạ qua lại vừa đấu hót thì thú vị
thật !
Ăn phở đối với Hân thì có thể 24 trên 24 hoặc 365 trên 365, nói tóm lại
là Bất Phân Nhật Dạ, lúc nào xơi cũng được, nhưng với điều kiện chất lượng
phở phải được lượng giá trên trung bình. Những khi trái gió trở trời, mưa
phùn gió bấc thì đã có phở xe đầu ngõ. Những lúc lỡ độ đường cũng không
thể bạ đâu ăn đó, cho nên mình cũng phải biết một vài nơi khả dĩ như phở
Hiền Vương Tân Định, phở 79 Võ Tánh Sài Gòn, cổng xe lửa số Một Phan Thanh
Giản...Phở bình dân có phở Quyền, Phú Nhuận cho lính tráng, thấp hơn nữa
có phở Cao Vân Quận Nhất cho giới công nhân thợ thuyền.
Làm thân con vạc thường đi ăn đêm, nhẩy nhót đến tận một hai giờ sáng, đói
lả thì mò đến hẻm Nguyễn Thiện Thuật ăn bánh canh giò heo, vào hẻm Phan
Đình Phùng ăn bánh cuốn, đến La – Cai, ngã năm Bình Hòa, ngã sáu Sài Gòn
v.v... mà ăn hoành thắn, hủ tiếu bò viên. Nhưng muốn ăn phở thì phải về
Pasteur. Tại đây có phở Ngân và phở Hòa là khá hơn cả. Những địa điểm ăn
đêm vừa nêu không chỉ dành riêng cho bầy vạc hư thân, mà còn lo bồi dưỡng
cho các cô các cậu, gọi văn hoa là những sĩ nữ sĩ tử gì đó thức thâu đêm
suốt sáng để gạo thi mong chiếm bảng vàng.
Năm 1981, từ tỉnh Thanh về Thành Đô, Hân lội khắp phố phường để tìm lại
một thoáng hương xưa mà không thành, chàng thật nản lòng. Một hôm, lang
thang vùng Trương Tấn Bửu Võ Tánh, tình cờ Hân tìm được phở Bắc Huỳnh ở
ngay ngã ba. Quán phở có chiều ngang khoảng gần 4 thước, nhưng chiều dài
thì sâu hun hút. Phở Huỳnh nghe nói là từ Đà Lạt di tản về. Ông bố đứng
bán, ba cô con gái xinh đẹp chạy bàn. Quán thật đông khách vì phở ngon,
ngon như phở Bà Dậu. Chính vì mùi thơm của nước dùng mà Hân đã lần đến
quán và khám phá ra phở Bắc Huỳnh. Ngồi ăn bên cạnh một ông già chạc bẩy
mươi tuổi kêu ít nước dùng, cụ gọi xin thêm. Ông chủ chiều lòng khách,
múc thêm nửa muôi, vừa chan vừa nói : Nếu cụ biết trị giá một muỗng súp
nước dùng của cháu là bao nhiêu thì cụ sẽ không chê trách cháu đâu ! Hân
đồng ý với ông chủ Bắc Huỳnh.
Cho đến năm 1999,tức là sau 15 năm, Hân trở về thăm quê hương và gia đình.
Vốn ghiền phở, Hân lại lần mò đi tìm một chút hương quê, nhưng có lẽ không
còn may mắn như kỳ trước. Cách đây 15 năm Hân đã tìm ra phở Bắc Huỳnh.
Nhưng rồi cũng lại tình cờ một hôm, Toàn, một người bạn học từ thuở hàn vi
đến rủ đi ăn sáng . Toàn hỏi Hân :
- Còn mê phở không ?
- Vẫn mê tít thò lò. Dân ghiền mà bị cai ngoài ý muốn từ khi xa bà Dậu đến
giờ.
_ Ý cậu muốn nói là ở hải ngoạikhông có phở sao ?
- Có nhiều lắm chứ ! Nhưng hương vị phở Bà Dậu không đâu có.
- Bạn vẫn nhớ phở Bà Dậu cơ à ? Thế thì đi thôi, kẻo không còn !
Hân bán tín bán nghi : Nghĩ đi thì có thể là lời nói bông đùa, nhưng nghĩ
lại, Toàn là một ông cụ non, lúc nào cũng đạo mạo từ khi còn ở bậc trung
học, bạn bè ai mà đùa quá trớn là giận. Cứ đi ! Biết đâu chẳng là một khám
phá mới thú vị. Nghĩ rồi, Hân leo tót lên yên sau chiếc Dream cũ kỹ của
bạn. Xe lướt đi, một hồi đến ngã tư Công Lý Yên Đổ, Toàn cho xe rẽ vào cư
xá, phóng thẳng vào cuối sân, chỗ có bãi đậu xe. Hai người lững thững vào
quán. Đúng là địa điểm phở Bà Dậu, mái bếp như được nâng cao lên nữa, khá
đông khách, có mùi phở nhưng nhẹ quá. Một ông trông hom hem, lại hơi móm
mém ra chào mời ra chiều thân mật vớiToàn. Bạn Hân giới thiệu :
- Này anh Dậu, giới thiệu thân chủ phở Bà Dậu từ xứ tuy- líp trở về. Và
đây là anh Dậu, chủ quán.
- Cháu chào ông. Anh Dậu nhanh nhẩu.
- Không dám, chào ông chủ. Thế bà Dậu đâu ? Bây giờ tôi mới được biết ông.
Anh Dậu lúng túng :
- Dạ, cháu là Dậu đây. Cháu hiểu thắc mắc của ông. Sự thể là như thế này :
Nguyên trước đây, hồi mới di cư vào Sài Gòn được mấy năm, có hai bà đến
thuê nhà cháu để mở hàng phở. Chẳng bao lâu, phở ngon, nên hàng quán phất
lên. Hồi đó cháu mới chỉ là thằng cu Dậu bé tí teo. Hai bà xin mẹ cháu lấy
tên Dậu làm tên quán phở. Tuy chẳng có bảng hiệu, nhưng thực khách cứ gọi
là quán phở Bà Dậu, lâu dần thành chết tên luôn. Sau một thời gian phở Bà
Dậu lại có thêm một tên nữa là phở Công Lý, cho dù nói tên nào thì khách
thập phương cũng lần ra. Tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn xa, phở Bà Dậu
được tôn vinh lên là Đệ Nhất Nhục Phấn ở cái đất Sài Đô Văn Vật này. Khi
xẩy ra biến cố 75, để cảm ơn chủ nhà, hai bà truyền nghề lại cho cháu. Giờ
đây, hai ông đang xơi phở do đệ tử hai bà nối nghiệp. Hai bà và gia đình
hiện định cư ở Mỹ.
Phở vừa được bưng ra, Hân nói với anh Dậu :
- Câu chuyện phở Bà Dậu thật ly kỳ và hấp dẫn. Nếu có dịp, tôi sẽ kể trên
báo chí. Bây giờ xin phép để chúng tôi thưởng thức tài nghệ của đệ tử kế
thừa, đồng thời cũng thử đi tìm lại một chút hương xưa nhé !
- Vâng, cháu xin mời hai ông xơi !
Ông Dậu là người Nam hay người Bắc thì không rõ, nhưng nghe phát âm thì
ông thuận tiếng Nam hơn. Khi nói chuyện, ông nói giọng Bắc pha giọng Nam,
nên nghe như nhại tiếng, người ta nói chửi cha không bằng pha tiếng, dễ
giận lắm đấy. Thế nhưng ông Dậu kể chuyện chất phác, hồn nhiên và thật
thà, câu chuyện lại hấp dẫn thì thử hỏi làm sao giận cho được !
Nhận xét về phở Công Lý hay phở Bà Dậu năm 1999, Hân kể lại : Tô phở Bà
Dậu là tô chiết yêu con gà miệng rộng, chân cao, to đùng, có thể nói nó to
hơn tô xe lửa của phở Tầu Bay, nhưng dung lượng tô phở chỉ được lưng lưng.
Bánh nát, thịt thái to và mỏng nhưng không phân biệt loại thịt rõ rệt, có
nghĩa là vè chẳng ra vè, gầu chẳng ra gầu, Hân nhìn tô phở không vừa ý về
thịt. Đã thế, nước dùng chan rất ít, vị ngọt có, nhưng là ngọt nhạt, thơm
nhè nhẹ, không có cái hương thơm quyến rũ mãnh liệt như Bắc Huỳnh, Tầu
Thủy hay Bà Dậu của năm75 về trước. Kết luận là phở Bà Dậu ngày nay không
còn " xịn " nữa, không còn ngon như xưa, có phải vì đệ tử chân truyền chưa
thuộc bí kíp của hai vị sư mẫu chăng ? Nhà văn Vũ Bằng đã chẳng nói " tình
yêu nhiều khi có dư vị cay cay đắng đắng, cái ngon thì không đánh lừa ai,
nó chung thủy như vợ hiền chiều chồng... ". Quả không sai chút nào !
Bước ra khỏi quán, Hân nói với bạn : Phở khá đấy ! Không biết có phải Hân
khen cho vừa lòng bạn hay vì tinh thần hoài cổ, vì một chút hương quê, một
chút dư hương ngày tháng cũ ?
Phở là món quà cổ điển của miền Bắc đã lưu truyền từ đời này qua đời khác,
cho dù trải qua bao biến thiên của thời đại, bao đổi thay của thời cuộc,
nó vẫn luôn luôn giữ được hương vị cổ truyền của dân tộc, như thế, nó
chẳng khác gì một tác phẩm văn chương cổ điển có giá trị, nó biểu hiện nét
dân tộc, nó là cái hồn của quê hương vậy.
Hân ngồi giữa rừng thưa có lá Thu bay, để tìm lại chút dư vị quê hương,
thiết tưởng cũng không phải là điều vô bổ. Một nhà văn cũng đã viết : "
Phở tuy chỉ là một chút quà sáng nhưng nó cũng là một mảnh sống vụn vặt
gom góp lại thành một cuộc đời " .
Hân miên man với những kỷ niệm tuyệt vời, nắng chiều đã ngả về Tây, một
mầu vàng Thu nhuộm khắp cả mặt hồ, nhuộm úa cả lòng người viễn xứ ...
ĐÀO QUỐC BẢO
Copy right © 2005 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved