Một
cách tiếp cận thơ Thiền
Bùi Công Thuấn
Thơ ca dân tộc có một bộ phận thơ Thiền đặc sắc. Nhiều bài thơ cuả các Thiền sư từ thời
Lư (1010-1225 )-Trần
(1225-1400) vẫn c̣n
được truyền tụng đến ngày nay, bởi v́ nó
chưá đựng vẻ đẹp tư tưởng và
nghệ thuật rất riêng. Ảnh hưởng Thiền
khá rơ trong suốt tiến tŕnh thơ ca dân tộc. Ngày nay
vẫn có những nhà thơ Việt
I. Kệ và Thơ
Thiền
Kệ là một h́nh thức
văn chương nghi lễ cuả Phật giáo, như Kệ
dâng hương , Kệ dâng hoa , Kệ vô thường buổi sớm.. Các Thiền
sư thường làm kệ “
thị tịch “ để
căn dặn đệ tử trước lúc qua
đời . Tiểu truyện về các Thiền sư thường
có những bài kệ. Những bài kệ ấy vưà nói
về giáo lư Phật vưà chưá đựng chỗ
độc đáo chứng ngộ cuả mỗi
người . Thiền Uyển
Tập Anh nổi tiếng
với những bài kệ như Thị
Đệ Tử cuả Thiền sư Vạn Hạnh, Cáo tật Thị chúng cuả
đại sư Măn Giác. Khoá
Hư Lục cuả Trần Thái Tông (1218 - 1277) có Kệ
ngũ giới , Kệ bốn núi ...
Về cơ bản , Kệ dạy giáo lư Phật bằng ngôn ngữ khái niệm. Nhưng khi chuyển thành ngôn ngữ h́nh tượng , Kệ trở thành thơ Thiền , ư nghiă tư tưởng chuyển hoá thành ư nghiă nghệ thuật.
Chẳng hạn
Bát Nhă chân vô tông
Nhân không, ngă diệc không
Quá, hiện, vị lai Phật
Pháp tính bản lai đồng. (1)
( Lư Thái Tông. 1028-1054 )
Dịch:
“Bát Nhă” Thực vô tông
Người không, ḿnh cũng không
Phật trước, nay, sau nữa
Pháp tính vốn tương đồng
(Ngô Tất Tố dịch )
Bài kệ này chỉ
diễn đạt giáo lư
về Chân Như . Ngôn ngữ kệ là ngôn ngữ khái
niệm, không có h́nh tượng . Kệ cuả sư
Vạn Hạnh đă có bước chuyển hoá thơ .
Ngày 15 tháng 5 năm Thuân
thiên thứ 9 (1018) sư không bệnh, gọi đệ tử
đến đọc bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uư
Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi (1)
( Vạn Hạnh Thiền sư )
Sư lại bảo các
đệ tử: - Các ngươi muốn đi đâu? Ta
không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng
dựa chỗ vô trụ mà trụ. Một lát sau sư qua
đời.
Lời cuả Thiền sư Mugaku nói với quân Mông cổ sau đây có cả chất kệ và chất thơ. (2)
Gom toaøn theå theá
giôùi
Chaúng vöøa moät ñaàu
gậy
Vaïn phaùp voán laø
khoâng
Voâ thöôøng vaø voâ
ngaơ
Löôơi göôm boïn hung noâ
Laáp loaùng caét
xuaân phong .
(Thieàn sö Mugaku )
II. Một Cách tiếp cận thơ
Thiền
Thơ Thiền là thơ tư tưởng. Cốt lơi tư tưởng thơ Thiền là giáo lư Phật giáo . V́ thế muốn tiếp cận thơ Thiền , người đọc phải ít nhiều có được căn bản tư tưởng Phật . Không có tri thức này th́ không thể cảm thụ thơ Thiền, v́ mỗi bài thơ là một chứng ngộ tại thế về Chân Như cuả Thiền sư.
Căn bản giáo lư Phật Giáo (3) là Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, và thuyết vô ngă . Giáo lư này được Đức Phật giảng dạy ngay sau khi Người thành đạo .
Tứ Diệu Đế là bốn chân lư cao cả do Phật đă t́m ra . Đó là Khổ ( dukkha ),Tập (Samudaya), Diệt (Nirodha), Đạo (Magga). Bản chất cuả cuộc sống là khổ là bất toàn, vô thường, trống rỗng, giả tạm . Sinh , lăo, bệnh, tử, ngũ uẩn là khổ. Nguyên nhân cuả khổ là khát ái , là dục vọng, là ư chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái sinh, muốn trở thành, muốn tăng trưởng, muốn tích lũy không ngừng. Bao lâu c̣n khát ái trở thành, th́ sinh tử luân hồi vẫn tiếp tục. Muốn tận diệt khổ người ta phải diệt cội gốc chính của khổ là dục vọng, diệt tham, diệt sân, diệt si. Chấm dứt khổ là Niết Bàn. Niết-bàn là Chân lư tuyệt đối hay Thực tại tối hậu. Phật nói : “Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục.“ Niết-bàn có thể thực hiện ngay trong cơi đời này. Để đạt tới Niết bàn con người phải tu tập theo Bát Chánh Đạo. Ấy là Chánh kiến (thấy đúng), Chánh tư duy (nghĩ đúng),Chánh ngữ ( nói đúng), Chánh nghiệp ( làm đúng ), Chánh mạng ( sống đúng ), Chánh tinh tiến ( siêng năng đúng), Chánh niệm ( nhớ đúng ), Chánh định ( tâm an trụ ).
Phật
giáo c̣n nói đến luật
nhân quả và nghiệp báo. Trên đường tái sanh luân hồi, con
người chịu ảnh hưởng của nghiệp. Vô
minh và Ái dục là nguyên nhân chính tạo ra
Nghiệp. Chính Vô Minh và Ái Dục là cội rễ
của mọi tội ác. Nghiệp và Quả đều tùy
thuộc nơi Tâm. Hành động (Nghiệp) và hậu quả của hành động
ấy (Quả) đều
do Tâm tạo nên . Mục tiêu tối hậu của
người Phật tử là tận diệt Nghiệp. Trong bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm,
có những lời dạy : “ Hăy gieo giống tốt, Ta
sẽ hưởng quả lành.”
Thuyết Vô Ngă (4) cho rằng ư tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt , gọi là Tôi, Ngă, cái Ta, hay Linh hồn, chỉ là một niềm tin sai lạc . Cái mà ta gọi là Tôi hay Ngă chỉ là một kết hợp của các uẩn vật lư và tâm linh, hoạt động tương quan mật thiết lẫn nhau trong một ḍng biến chuyển từng sát na, chịu chi phối của luật nhân quả . Tất cả đều vô thường. Phật giáo phủ nhận hiện hữu của Ngă, linh hồn, thượng đế. Sự sống đă phát sinh, tồn tại và tiếp diễn là do mười hai nhân duyên : đó là Vô minh , nghiệp , Thức ,Danh sắc , Lục nhập , Xúc ,Thọ , Ái , Thủ , Hữu ,Sinh ,Lăo , Tử . (5) Nếu đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá tŕnh .Vô minh diệt th́ Nghiệp diệt, Nghiệp diệt th́ thức diệt, thức diệt th́ danh sắc diệt,.. cho đến khi sinh lăo, tử, ưu bi khổ năo... diệt.
Đọc
thơ Thiền , người đọc sẽ nhận ra
những tư tưởng căn bản trên nơi sự
chứng ngộ cuả các Thiền sư . V́ thế thơ
Thiền trước hết là thơ tư tưởng ,
không phải là thơ kiểu thơ phản hánh hiện
thực hay thơ giăi bày tâm trạng
III. Thiền Tông (6)
Thơ
Thiền thể hiện tư tưởng Phật giáo
nhưng có những đặc sắc riêng cuả Thiền
.Thiền là đạo
giác ngộ h́nh thành qua kiến giải Trung Hoa , là cách tu
chứng khác với Phật giáo Ấn độ.
Thiền khởi từ Thiền thoại : ”Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi
tiếu”, nghĩa là Phật giơ lên cành hoa, Ca Diếp nh́n
cành hoa và mỉm cười. Ca Diếp đốn ngộ tâm truyền , trực tiếp
từ hành động cuả Phật , không qua kinh
điển . Phật phó chúc Thiền cho Ca Diếp, và từ Ca Diếp tâm
ấn Phật được tiếp tục truyền
thừa đến tổ thứ 28 là Bồ Đề
Đạt Ma, sơ tổ Thiền Trung Hoa . Bồ Đề
Đạt Ma ( -528) sang Trung
Quốc vào năm 520 , mang theo một thông điệp ,
được coi là tôn chỉ cuả Thiền :
Giáo ngoại
biệt truyền
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật .
( Truyền riêng ngoài giáo / Chẳng lập
văn tự /Trỏ thẳng
tâm người / Thấy tánh
thành Phật )
Thiền đặt nặng lư Giác Ngộ . Tu chứng theo Thiền là nỗ lực tự chứng, nỗ lực tự ḿnh, trong nội tâm ḿnh, để ”Kiến tánh thành Phật”. Phương pháp cuả Thiền là không dùng văn tự , mà tác động trực tiếp vào tâm. Bởi v́ ” Tâm tức Phật / Phật tức tâm “ . Vô Minh , Nghiệp quả , Ái dục cũng do tâm .Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên hoặc giáo lư Vô Ngă chỉ là người hướng đạo trí thức vạch ra con đường thực hiện sinh hoạt Phật giáo. V́ thế Thiền tập trung vào Phát tâm , an trú tâm và hàng phục tâm .
Hai bộ kinh quan trọng cuả Thiền là kinh Lăng
Già ( Lankavatara-Sutra) và kinh
Kim Cang (7)
Kinh Lăng
Già
có thuyết “ Như Lai tạng” ảnh hưởng đến toàn
bộ Thiền tông. Như Lai tạng là “: Tất
cả chúng sinh đều tàng chưá Như Lai, tức
là Phật tính . Phật tính bị khách trần che phủ nên
phải tu tập bích quán để trừ dứt
khách trần cho Phật tính thanh tịnh hiển lộ. Kinh Lăng Già chú
trọng ở sự ngộ lư , nội chứng , rời
bỏ ngôn thuyết , văn tự , vọng tưởng, nhấn
mạnh tự tu, tự ngộ, tự chứng để
đạt tới cảnh giới “ tự giác thánh trí
“
Ư tưởng nền tảng cuả kinh Kim Cang là giáo lư về Tính KHÔNG (8) . Tất cả vạn hữu đang hiện hữu, tự tính của nó là Không. Ư niệm Không không phải là hư vô , mà là trạng thái vượt qua nhị nguyên tử - sinh , vượt qua hữu - vô , vuợt qua sắc tướng . Đó là thể tính chân như cuả hiện hữu , là Như Lai . Thực tướng ấy không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không thể dùng ư niệm để ư niệm , thấy Như Lai là thấy “thực tại vô tướng” .
Người làm thơ Thiền có
khi thể hiện cái nh́n cuả kinh Hoa Nghiêm. Dưới
mắt người hành đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm,
con ong, cái kiến cho đến cọng cỏ, bụi gai,
không cái ǵ mà không dễ thương, tất cả
đều là Phật, tất cả pháp, kể cả
sơn hà đại địa đều nhận lực
chi phối của huệ Như Lai, đều là Pháp thân
Phật. (9)
III.Thi Pháp thơ Thiền
Thơ Thiền được làm theo những nguyên
tắc nhất định, có thể gọi là thi pháp .
Thực ra không có hẳn một trường phái thơ
Thiền , v́ thế cũng không hề có lư luận về
thi pháp thơ Thiền. Tuy nhiên, khi đọc thơ
Thiền, người đọc có thể nhận ra
một vài đặc trưng trong phép làm những bài kệ
- thơ Thiền cuả các Thiền sư.
1.Thơ Thiền là
kinh nghiệm tu chứng cuả Thiền sư, laø thôøi khaéc saùng loaø cuả tâm thanh ṭnh , an nhiên, đạt tới thực tại vô tướng , thể tính chơn như cuả hiện hữu. Ánh
sáng cuả sự chứng ngộ ấy tạo nên cái
đẹp thơ .
2. Thơ
Thiền được viết bằng kiểu ngôn
ngữ vô ngôn, xuất phát từ cách sử
dụng ngôn ngữ cuả các Thiền sư. Đối
với Thiền, ngôn ngữ được xem là lừa
dối và sai lạc để thấu hiểu chân lư. Kinh Lăng Già khẩn
thiết bảo ta rằng ngôn ngữ là một
phương tiện hoàn toàn thiếu thích đáng để
diễn đạt và truyền đạt nội thể
của Giác Ngộ. Kinh Kim Cang viết “Vô pháp khả
thuyết thị danh thuyết pháp”
( thuyết
pháp là : không có
pháp nào có thể thuyết ấy là thuyết pháp) . Thực
tại vô tướng , thể
tính chơn như không thể diễn tả bằng ngôn
ngữ, hay bằng ư niệm.
V́ thế đọc
thơ Thiền , người đọc phải t́m ra cách
nói cuả tác giả , nắm lấy diệu lư Thiền,
vượt qua ngôn ngữ . Các Thiền sư phải
trải qua vô số thử thách ê chề mới đạt
tới được tuyệt kỹ này. Cách nói vô ngôn có thể gói trong
những thí dụ sau (10) : 1. Nói nghịch, 2. Nói
vượt qua, 3. Nói chối bỏ, 4. Nói quyết,
5. Nói nhại, 6.Hét, 7. Phép
im lặng, 8. Lư luận ṿng
tṛn.
Nói nghịch là cách noí nghịch lư. Phó Đại Sĩ nói :
Tay
không: nắm cán mai
Đi
bộ: lưng trâu ngồi
Theo
cầu qua bến nước /
Cầu
trôi nước chẳng trôi .
Nói vượt qua là cách nói
thoát khỏi nhị nguyên khẳng định và phủ
định .
Nói chối bỏ là cùng một người, và cùng một
câu hỏi, lúc nói “có”, lúc nói “ không”.
Nói quyết cách nói lạc đề:
Một
ông tăng hỏi Thiền sư Hoa Sơn (?): “ Thế nào là Phật”,
Sư
đáp : “ Tôi biết đánh
trống, tum đùng đùng”
Nếu
hiểu vạn pháp (mọi hiện hữu) đều có
Phật Tính , và Phật tính hiện trong vạn pháp, th́ dù trả lời lạc
đề thế nào, h́nh ảnh trong câu trả lời
vẫn dẫn đến Như lai.
Nói nhại là nhại lại câu
hỏi cuả người hỏi:
Một ông tăng hỏi
Trường Sa: “Làm sao
chuyển non sông đất nước trở về cái
tự kỷ?”
Sư
đáp : “Làm sao chuyển cái
tự kỷ thành non sông đất nước?”
Đối với các Thiền
sư, lời nói, ngôn ngữ là
một thứ tiếng la, tiếng , kêu thoát ra từ
sự thân chứng nội tại ; nó vô nghĩa, v́ thế muốn
hiểu Thiền phải
tự hiểu chính ta, không phải hiểu nghĩa của
ngôn ngữ phản chiếu
những ư niệm. Thiền không thể nói được
cho những người chưa có tự chứng
3. Thơ
Thiền sử dụng một số diễn tả đă
thành “ điển “ cuả Phật giáo, như điển
hoá Thiền thoại; diễn tả cái Có và cái Không nhị nguyên bằng
những chữ như sát (giết chết) và hoạt (cho sống), đoạt (cướp lấy) và dữ (ban cho), xúc (khẳng định) và bối (phủ định), bằng từ vựng Phật giáo
như khổ, dục, vô thường, vô ngă, tâm, an nhiên thanh tịnh
v.v...
Ta gặp h́nh
ảnh diễn tả tư tưởng Phật quen
thuộc như : Tất cả các pháp là hữu
vi, đều giống như sao đêm (tinh), như mắt
loạn(Ế), như
ngọn đèn (đăng), như
huyễn thuật (ảo), như sương
mai (lộ),
như bọt nước(bào), như cơn mộng (mộng),
như ánh chớp (điện), như đám
mây nổi (vân).
Thân như điện
ảnh hữu hoàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm
vận thịnh suy vô bố uư
Thịnh suy
như lộ thảo đầu phôi
( Vạn Hạnh Thiền
sư )
Hoặc:
Hết
thảy pháp hữu vi
Như chiêm bao, huyễn thuật,
Như bọt nước, ảo ảnh,
Như suơng mai, điện chớp,
Hăy quán chiếu như vậy.
( bài kệ trong kinh Kim Cang )
Những h́nh
ảnh quen thuốc ấy có nghiă riêng cuả giáo lư
Phật. Tinh
tú biểu tượng cho cái
thấy. Mắt bệnh là
ví dụ cho tướng của đối tượng. Ngọn
đèn là thức uẩn. Huyễn thuật là
cư xứ, chỉ khí
thế gian, Sương mai
là ví dụ cho thân thể. Bọt
nước là thọ dụng. Chiêm bao là thời gian
quá khứ. Điện chớp
là thời gian hiện tại. Vầng
mây là thời gian vị lai.
4. Một bài
thơ Thiền có thể có hai lớp nghiă. Lớp nghiă nghiă
tư tưởng , diễn tả sự chứng ngộ
cuả tác giả về Chân
Như, và lớp nghiă nghệ thuật, do hệ
thống h́nh tượng thơ gợi ra. Lớp nghiă này
được hiểu theo cách hiểu cuả cộng
đồng, bằng tri thức ,văn hoá thẩm mỹ
cuả cộng đồng . Hai lớp nghiă này có khi
đồng nhất, có khi là riêng biệt, tuỳ theo cách
sử dụng kiểu ngôn ngữ cuả Thiền sư. Nếu
ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ dạy đệ tử,
lời dạy trực tiếp cho người chưa
chứng ngộ, đó là kiểu ngôn ngữ đời
thường, hai lớp nghiă này thường đồng
nhất. Nếu Thiền sư biểu lộ sự
chứng ngộ , th́ đó là kiều ngôn ngữ vô ngôn, là tiếng kêu vô nghiă . Lúc
ấy, nghiă tư tưởng
và nghiă nghệ thụật là tách biệt, có khi không có quan
hệ ǵ với nhau. V́ thế những cách đọc
bằng phương pháp truyền thống, phân tích nhân vật trữ t́nh ,
phương pháp Tiểu Sử, Phân Tâm Học , Phản ánh
Luận , Cấu Trúc Luận … đôi khi bất lực trong
việc giải mă thơ Thiền
IV Thử
đọc một vài bài thơ Thiền
1Thiền sư Không Lộ ( ?-1119 )
Trạch đắc long xà
địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô
dư
Hữu th́ trực thướng
cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất
thanh hàn thái hư.
Dịch:
Kiểu đất long xà chọn
được nơi
T́nh quê lai láng chẳng hề
vơi
Có khi xông thẳng lên đầu
núi
Một tiếng kêu
vang, lạnh cả trời
( Kiều
Thu Hoạch dịch)
Hai
câu đầu là trạng thái an lạc cuả Thiền
giả. Chọn được đất rồng rắn có thể ở
được . T́nh quê vui vẻ (lạc) suốt ngày, không
ǵ hơn. An nhiên, không
vướng mắc sự đời, đó là trạng thái“Ưng vô sở trú “ . Sự
vật (long xà điạ),
con người (tác giả), thời gian (chung nhật) cùng hợp nhất. Lời thơ
như là kể, là tự nói chuyện với chính ḿnh, v́
thế câu thơ không có chủ thể trực tiếp cho
hành động “trạch
đắc“(chọn được), hành động “cư”(ở), và trạng thái “lạc vô dư” (an vui không ǵ
hơn ). Nếu tứ thơ tiếp tục phát triển
theo hướng miêu tả cuộc sống nhàn nhă thảnh
thơi, th́ chưa hẳn đă là thơ Thiền, bởi
an vi, “vô vi” cũng là cách
sống cuả nhà Nho xưa, bài thơ sẽ trở thành thơ Nhàn cuả nhà Nho.
Hai câu sau là
phút toả sáng sự chứng ngộ. Có lúc lên thẳng
ngọn núi trơ trọi . Kêu một tiếng dài lạnh cả thái hư. Chứng
ngộ Thiền là tự chứng , tự nội tâm ḿnh,
đơn độc . Người tu Thiền phải
chiến đấu quyết liệt với chính ḿnh,
như người leo núi đơn độc. Núi
ở đây có thể hiểu theo cách Trần Thái Tông nói
về “ bốn núi “ : sinh,
lăo, bệnh, tử . Núi chính là ngũ
uẩn , là vô minh, là nghiệp , là sắc tướng vô thường mà người tu Thiền phải
vượt qua để đạt đến Ngă Không , đạt
đến tự tánh. Theo Tổ Huệ Năng (11), tu
Thiền là nỗ lực“
kiến tánh thành Phật “. Chứng ngộ là thấy được tự tánh . Con người, vũ trụ là một, “tất cả
tức một, một tức tất cả”. Con
người có uy lực cuả vũ trụ. Bởi v́ tự tánh bao hàm toàn thể vũ trụ, tự do
tự tại, đầy sinh lực sáng tạo, mà
đồng thời cùng tự tri tự giác.V́ thế Không
Lộ Thiền sư kêu
một tiếng dài làm cả thái hư lạnh lẽo. Đó
là cách nói biểu hiện sự chứng ngộ.
Trong thực tế sẽ chẳng có ai lên thẳng
đỉnh núi cô độc , ở đó một ḿnh
với chính ḿnh, kêu dài một tiếng làm lạnh cả thái hư
.Tại sao hai câu đầu là tâm an lạc mà hai câu sau
lại là trạng thái cô độc tuyệt đối:
đỉnh núi cô độc và con người cô độc
trên đỉnh núi ? Tại sao
con người không ở yên trong an lạc mà lại
lên thẳng đỉnh núi cô độc kêu lên một
tiếng dài , tiếng kêu tan vào thái hư? Rơ ràng là hai t́nh
huống ngôn ngữ không logic với nhau , thậm chí
tương phản nhau . Người đọc nhận ra
kiểu ngôn ngữ vô ngôn , trong cách nói quyết. Tứ thơ là
những h́nh ảnh vô nghiă. Nó
chỉ là tiếng kêu từ tâm chứng ngộ .Ngôn ngữ không phản ánh
hiện thực hay phản ánh con người nhà thơ..
Để hiểu h́nh ảnh núi
, xin đọc bài kệ cuả thiền sư Ranryô (12)
Thiền
định và tŕ niệm
Như
hai toà núi lớn
Căn cơ người
sai khác
Phật tánh vốn chung
đồng
Kẻ
lên được tận đỉnh
Thấy
trăng chiếu muôn nơi
Thương người
thiếu tín tâm
Mờ mịt giưă
dốc ghềnh
RanryÔ giúp ta
hiểu “ kẻ lên tận đỉnh núi “ cuả Không
Lộ Thiền sư là “ đỉnh
núi cuả thiền định và tŕ niệm “ , con
đường dẫn đến giác ngộ. Đạt
tới đỉnh núi là đạt tới chứng
ngộ.
Bằng cách
đọc theo phản ánh
luận, kết hợp với việc phân tích nhân vật
trữ t́nh, và “tán “ thơ “, có người hiểu hai câu
thơ cuả Không Lộ Thiền Sư thế này: (13)
“ Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả
trời “
Hai câu thơ cao khiết mà cô
đơn lạ! Cái ư tưởng nào mà chợt
đến, chợt đi ( có lúc ), mà táo bạo ( trèo lên
thẳng) với tâm thế hết sức cô đơn (đỉnh
núi trơ trọi). Tiếng kêu ấy thảng thốt
biết bao làm cho cả bầu trời rùng ḿnh, ớn
lạnh. Phải chăng đây là khát vọng vươn
tới cái cao cả, cái nằm ngoài giới hạn cuả
con người ?Phải chăng đây cũng là
ước mơ cháy bỏng hoà đồng với thiên
nhiên, ngang tầm với vũ trụ? Dù sao th́ hai câu thơ
tự chắp cánh cho ḿnh, một thời đă làm run
lạnh cả bầu trời ấy, đến nay vẫn
làm chúng ta giật ḿnh ngơ ngác. V́ nó lớn lao quá mà
rất đỗi thiết tha. Nó rất “con người”. ( tôi xin không có lời b́nh
về cách hiểu này )
Cái hay cuả
bài thơ này là ǵ ? là sự thể hiện tư
tưởng Phật hay ở
h́nh tượng và nghệ
thuật thơ ?
Có thể thấy rằng, cái hay cuả
bài thơ thể hiện ở tính độc đáo trong
cách diễn tả sự chứng ngộ Phật và ở
h́nh tượng thơ mới lạ . Ở Thiền ,
sự chứng ngộ cuả mỗi Thiền sư là
sự chứng ngô riêng , độc đáo và đột
khởi , đốn ngộ. Không Lộ Thiền sư
cũng chứng ngộ như thế: lên thẳng
đỉnh núi cô độc, kêu dài một tiếng làm
lạnh thái hư. Đó là ư nghiă tư tưởng . Ư nghiă
nghệ thuật cuả h́nh tượng thơ lại
đem đến cho người đọc những
mỹ cảm khác .Đó là vẻ đẹp tâm hồn dung
dị cuả nhà thơ hoà ḿnh trong đời sống dân dă
, đằm thắm trong cái t́nh quê suốt ngày vui không ǵ
hơn. H́nh ảnh nhà thơ có lúc đă từng lên thẳng đỉnh núi cô độc,
kêu một tiếng dài , âm vang làm lạnh thái hư. (Những
người ở rừng ở núi thường dùng
tiếng kêu dài , hú dài để gọi nhau) Có lẽ nhà
thơ đă khám phá ra sức mạnh cuả chính ḿnh trong
thiên nhiên và trong thái hư (vũ trụ) . Bài thơ gợi
ra h́nh ảnh một Thiền sư ở giưă cuộc
sống, giưă thiên nhiên , vưà ung dung giản dị ,
vưà mạnh mẽ phi thường , vượt lên tất
cả , hoà nhập tất cả , “tất cả tức một,
một tức tất cả”.
2. Thieàn sö Mugaku (14) là người sáng lập
Thiền Tông
Nhật Bản . Sư sinh ra và lớn lên ở Trung
Quốc , ngộ Thiền từ 12 tuổi . Năm 1275 quân
Mông cổ tràn vào Trung Quốc . Mugaku lúc ấy
đă xuất gia, di tản khỏi chùa . Một năm sau
chiến sự lại tràn đến, sư ở lại
chuà . Khi ấy Mugaku đang tĩnh toạ
tại chánh điện, quân Mông Cổ tràn vào. Chúng kề gươm
vào cổ ngài mà uy hiếp . Ngài điềm nhiên đọc một bài kệ , quân
Mông Cổ hạ gươm rồi rút lui. Bài kệ như
sau:
Gom toaøn theå theá giôùi
Chaúng vöøa moät ñaàu gậy
Vaïn phaùp voán laø khoâng
Voâ thöôøng vaø voâ ngaơ
Löôơi göôm bọn hung noâ
Laáp loaùng caét xuaân phong .
(Thieàn sö Mugaku)
Trước hết bài kệ là cách sư Mugaku trả
lời cho sự uy hiếp cuả quân Mông Cổ. Chúng
lấy cái chết để đe doạ Thiền sư.
Ngài noí : toàn thể thế giới là quá nhỏ, gom toàn thế thế giới chẳng vưà một đầu
gậy. Mọi hiện hữu (vạn pháp) đều
là Không , vậy sự hiện hữu cuả Ngài là vô ngă, nào có nghiă ǵ. Nếu lưỡi gươm tàn
bạo cuả quân Mông có lấp loáng, cũng ch́ là cắt vào gió xuân ,
cắt vào Không . Lời cuả sư chỉ ra rằng, sức mạnh vật chất tàn
bạo cuả quân Mông Cổ, dù có chém đầu ngài,
cũng chỉ là vô nghiă . V́ chúng là Không, và chúng đối
diện với Không . Nội dung tư tưởng cuả
bài kệ là triết lư tính Không
về bản thể cuả hiện hữu vô thường vô ngă cuả
Phật.
Cái hay cuả bài kệ là ở chỗ Thiền sư
đă làm hiển lộ sức mạnh, uy lực cuả
sự chứng ngộ, con người , vũ trụ là
một, tự do, đầy sinh lực sáng tạo . Đối
diện với sức mạnh ấy , quân Mông Cổ phải
buông gươm.
Nhưng bài kệ c̣n hay ở h́nh tượng thơ
được nhà sư dụng để thể hiện
tư tưởng Phật. Nó vưà tạo ra cái thẩm
mỹ, vưà bộc lộ tŕnh độ giác ngộ và uy
lực cuả tác giả
Gom toaøn theå theá giôùi
Chaúng vöøa moät ñaàu gậy
Cả thế giới gom lại chẳng vưà
một đầu gậy , con người này có tầm vóc
, uy lực lớn lao mạnh mẽ đến thế nào! Con
ngưới ấy có thể gom cả thế giới
lại, và cả thế giới là quá bé nhỏ trong tay con
người . Một tứ thơ như vậy quả là lạ
. Nó chưá đựng sức mạnh Phật .
Löôơi göôm bonï hung noâ
Laáp loaùng caét xuaân phong
Tứ thơ cuối sáng lên một
cái đẹp nghệ thuật khác : lưỡi
gươm lấp loáng cắt gió xuân. Tất cả
sự tàn bạo cuả quân Mông Cổ trở nên vô nghiă v́
cắt vào Không, nhưng tứ thơ có sự chuyển
nghiă , tất cả sự tàn bạo , đẫm máu,
thăng hoa thành cái đẹp “ lấp loáng trong gío xuân
“. Không c̣n máu chảy , đầu rơi , tang thương,
chết chóc. Sức mạnh tàn bạo cuả sự chết
chuyển hoá thành sức mạnh sáng láng cuả sự
sống ( muà xuân )
Nghiă tư tưởng (Thiền) và nghiă nghệ
thuật cuả tứ thơ có sự chuyển hóa
đột ngột , mạnh mẽ , mới lạ . Ở
bài này sử dụng ngôn ngữ đời thường , lời
thơ là lời Thiền sư nói với quân Mông Cổ, v́
thế nghiă tư tưởng và nghiă nghệ thuật có
thể trùng với nhau.
3. Măn Giác đại sư (1052-1096)
Xuân khứ
bách hoa lạc
Xuân lai bách hoa
khai
Sự
trục nhân tiền quá
Lăo ṭng
đầu thượng lai
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đ́nh
tiền tạc dạ nhất chi mai.
Dịch:
Xuân ruổi,
trăm hoa rụng
Xuân tới,
trăm hoa cười
Trước
mắt việc đi măi
Trên
đầu già đến rồi
Đừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân
trước, một cành mai.
( Ngô Tất
Tố dịch)
Bốn câu
đầu là h́nh ảnh diễn tả tính chất vô
thường , vô vọng, cuả hiện
hữu trong không gian , thời gian. Cuộc sống luôn
vận động trong nhân duyên, có sinh th́ có diệt, luân
hồi măi trong cơi sinh tử . Xuân đến rồi xuân
đi , hoa nở rồi hoa rụng. Sự việc cứ
trôi đi trước mắt .Tuổi già đến trên
đầu. Bản thể cuả hiện hữu là vô thường , chẳng có ǵ
tồn tại . Con người chẳng thể níu kéo được
ǵ, chẳng thể níu kéo tuổi xuân cho ḿnh .
Hai câu
cuối là sự chuyển hoá lạ
lùng, như được thốt ra từ sự chứng
ngộ . Đừng
tưởng xuân tàn th́ hoa rụng hết . Hoa vẫn
nở đấy : Đêm qua,
một cành mai đă nở trước sân. Măn Giác
đại sư đă vượt qua vô thường, vượt qua tử sinh,
vượt qua luân hồi. Đại
sư đă nh́n thấy cành mai
nở trước sân , như Ca diếp mỉm
cười chứng ngộ khi nh́n thấy đức Phật giơ cành hoa lên
. Măn Giác đại sư
cũng đang mỉm cười . Cành mai ấy là cành mai
tư tưởng, sáng lên một cách lạ lùng trong bóng
tối cuả vô thường
đă lùi lại phiá sau. Đó là ư nghiă tư tưởng
Thiền cuả bài kệ.
Đọc
bài thơ này bằng phương pháp cấu trúc luận,
Như Huy có những kiến giải thú vị về ư nghiă
bài thơ, nhưng Như Huy chưa phát hiện ra sự
chứng ngộ cuả măn Giác (15)
Ở bài
kệ này, ngôn ngữ là lời “ thị đệ tử “,
là lời dạy bảo trực tiếp, ngôn ngữ
đời thường . Nhưng lời dạy ấy
được diễn tả bằng h́nh ảnh, tạo
nên tứ thơ , Kệ trở thành thơ . H́nh
tượng nghệ thuật cuả thơ mang đến
một ư nghiă khác. Đó là cái nh́n thanh xuân cuả một
người tuổi già đă đến trên đầu . Trong
cái nh́n ấy muà xuân tồn tại măi, sự sống
vẫn tươi tắn , cái đẹp vẫn tồn
tại, dù tất cả vẫn qua đi như một quy
luật không cưỡng lại được . Tứ
thơ “ Đêm qua, sân
trước, một cành mai.” Là một tứ thơ mới
lạ cả về nghệ thuật và tư tưởng
thẩm mỹ. Nhà thơ chọn trong trăm hoa rụng một cành mai tươi nở
. Cái đẹp trong ư thức sáng tạo cuả nhà thơ
là cành mai, là muà xuân, là tuổi trẻ, là sự sống và
một niềm tin vĩnh cửu. Đối với
người Việt Nam , cành mai luôn là h́nh ảnh gần
gũi cuả mọi nhà mỗi khi xuân về, chẳng bao
giờ thiếu muà xuân trên đất nước trăm
hoa này. Điều này giúp chúng ta hiểu được
tại sao bài thơ gắn kết lâu bền trong thi ca dân
tộc và trong tâm hồn người
Việt như vậy.
4. Thơ Thiền Bùi Giáng (16)
Thơ Bùi
Giáng có tư tưởng Thiền. Bùi Giáng nhận ra “ tinh
thể đười ươi “ trong thân phận
người .
Hoặc rằng người cũng
là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.
Trong Thiền Luận , Daisetz Teitaro Suzuki nhắc đến
Thiền Thoại sau : Khi Ngưỡng Sơn ( 804-899)
hỏi về Phật tánh. Thiền Sư Hồng Ân
giảng như vầy: “Như ngôi nhà có sáu cửa nhốt
khỉ đột. Ở ngoài có người hô to “khọt khọt”,
khỉ đáp lại “khọt khọt”, cứ thế sáu
cửa cùng hô cùng ứng. Ngưỡng Sơn hỏi
lại: “Ví như lúc ấy khỉ ngủ th́ sao?". Hồng
Ân bước xuống một tay nắm Ngưỡng
Sơn, vừa múa vừa nói: “Khỉ
ơi khỉ ơi , ta với ngươi cùng đối
mặt nhau đây”. Bùi Giáng thay khỉ bằng đười
ươi, tạo ấn tượng mạnh hơn
v́ đười ươi hay cười. Đó cũng là
h́nh ảnh nghệ thuật Bùi Giáng tự vẽ chân dung
cuả chính ḿnh
Đoạn
thơ trên biểu hiện tâm hồn , tính cách , kiều nói
năng rất Thiền
cuả Bùi Giáng . Bùi Giáng nhận ra Phật Tánh trong h́nh hài đười ươi
cuả người ,
cuả tôi. “ người cũng là tôi , tôi cũng là người ,
ấy rằng tinh thể đười ươi “ . Vũ
trụ, thời gian là nhất
thể, tự tại, không sinh diệt: “ một cũng là ba , là hai , là một ; mai , mốt
cũng là hôm nay “. Sự giác ngộ như thế là
bước giác ngộ thứ nhất để dẫn
đấn đại ngộ . Bùi Giáng không nh́n tha nhân
như người khác mà
nh́n tha nhân trong cùng một
bản thể Phật tính , không nh́n tha nhân như
người cuả thế
giới khác , vũ trụ khác, mà nh́n tha nhân trong hiện
hữu thường hằng,
quá khứ- hiện tại - tương lai - không gian -
thời gian là một .Trong một tương quan như
thế, người đọc thấy Bùi Giáng an nhiên ngay
trong cuộc sống thực tại
Cái hay cuả
đoạn thơ ấy là kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng. Ngôn
ngữ như bông đuà. Nói chuyện tư tưởng
thâm sâu cuả sự chứng ngộ mà tếu táo chẳng đâu ra
đâu, lẫn lộn lung tung. Thực ra Bùi Giáng cố ư xáo
trộn ngôn ngữ, dùng cách nói ṿng ( kiểu ngôn ngữ
cuả các Thiền sư ) ,
tạo ra sự xáo trộn trật tư logic cuả
ngôn ngữ đời thường, xáo trộn không
gian, thời gian, đạt tới
sự diễn tả tư tưởng.
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.
Để hiểu câu thơ này,
cần sắp xếp lại ngôn từ theo logic cuả ngôn
ngữ đời thường . một-hai-ba (không gian) -mốt-mai-hôm
nay (thời gian) , tất cả là một. Vạn pháp là
một Phật tính . Phật tính hiển hiện trong
vạn pháp. Tuy nhiên
đoạn thơ không phải là tâm thế đốn
ngộ cuả Bùi Giáng. Bùi Giáng chỉ mượn tư
tưởng Thiền để thể hiện cá tính sáng
tạo cuả ḿnh, một cá tính tài hoa. V́ thế thơ Bùi Giáng là thơ cuả
một nghệ sĩ tài hoa, khác với những bài kệ / thơ
Thiền cuả các Thiền sư.
5.
Thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn (17)
Trần
Ngọc Tuấn là một nhà thơ trẻ. Thật đáng
ngạc nhiên v́ Tập Suối
reo cuả anh là một tập thơ Thiền . Trong t́nh
h́nh người trẻ làm thơ hiện nay , th́ sự chọn lựa ấy cuả
Trần Ngọc Tuấn là sự chọn lưạ
đầy khó khăn. Trần Ngọc Tuấn không phải
là một Thiền sư, anh vẫn đang sống lăn
lộn giưă đời, v́
thế Suối Reo là thơ
của đời ánh lên sắc Thiền , thơ của
một con người c̣n
đang “ qua dốc
sương mù “
“ Gánh củi qua dốc sương
mù
Mồ hôi giọt gịot gió ù ù bay
Ngh́n tia nắng dệt trang ngày
Bước chân hoan hỉ , đêm này
lửa reo “
Sống là gánh lấy bao nhiêu nỗi
vất vả như người gánh củi . Ngày
đêm phải vượt qua
con dốc
sương mù và
đương đầu với gió ù ù bay . Nếu nh́n nhận cuộc đời
như thế , tác giả sẽ chuyển bài thơ thành tâm
t́nh thở than. Thế
nhưng Qua Dốc Sương Mù lại rực rỡ ánh sáng của
sự thăng hoa . Đó không phải là thứ ánh sáng thiên
nhiên của ngh́n tia nắng
, hay ánh sáng của đêm
lửa reo , mà là ánh hào quang
của Phật . Nỗi vất vả , thống khổ
trở thành con đường hạnh ngộ. Qua dốc sương mù là
vượt qua vô minh ,
vượt qua khổ ( Diệu đế I ). Người gánh
củi kia tỏa ánh hào quang của Phật trong
“ bước chân hoan hỷ ‘ .
Bài thơ không miêu tả
hiện thực gánh củi mà tả khỏanh khắc
chứng ngộ đầy hỷ hoan trong ánh sáng toả ra
từ Tâm Bát Nhă. Hiện thực đuợc nh́n bằng Trí Huệ Bát Nhă
( Prajna ) . Đó là ư nghiă tư tưởng
cuả bài thơ.
Người
ta có thể hiểu bài thơ khác đi qua cách
đọc phản ánh hiện
thực . Bài thơ là cái nh́n lạc quan , là tấm ḷng nhân
hậu Trần Ngọc Tuấn đối với
người gánh củi. Bài thơ cũng là một bức
tranh tả cảnh gánh củi
vất vả, trên nền thiên
nhiên rạng rỡ , trong ánh sáng ấm áp cuả bếp
lửa gia đ́nh do củi mang laị , từ đó nói
đến một tiến
tŕnh tư tưởng tích cực, suy từ sự vất vả đến hạnh
phúc mà người gánh củi đạt được.
Ở bài
thơ này, Trần Ngọc Tuấn chưa đạt
đến các nói cuả Thiền sư. Ngôn ngữ thơ
không phải là kiểu ngôn ngữ vô ngôn cuả Thiền ,
v́ thế nghiă tư tưởng và nghiă nghệ thuật có
thể chồng khít lên nhau, không tinh ư khó có thể nhận ra ư nghiă
Thiền cuả bài thơ. Dầu vậy bài thơ cũng
có được những tứ thơ hay và ngôn ngữ
nghệ thuật tinh ṛng . Sự kết hợp Tứ
Tuyệt với Lục bát tạo nên màu sắc thẩm
mỹ riêng, vưà có cái cô đọng tư tưởng
cuả Tứ Tuyệt, vưà có cái mền mại thanh thoát
cuả Lục Bát, vưà có sự sang trọng cuả
tư tưởng vưà có sự dung dị dân dă cuả hồn
thơ.
6.Thơ Thiền Phạm Thiên Thư
Tôi chưa có
dịp nói đến những kinh Phật được
Phạm Thiên thư phổ thơ như Qua
Suối Mây Hồng - Kinh Ngọc ( thi hóa Kinh Kim
Cương), Hội Hoa Đàm -
Kinh Hiền ( thi hóa Kinh Hiền Ngu, 12 ngàn câu lục bát), Suối Nguồn Vi Diệu -
Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú)
Chỉ xin thử
đọc một đoạn trong bài Đưa Em T́m Động Hoa Vàng cuả Phạm
Thiên Thư (PTT) xem thơ Thiền cuả Phạm Thiên
Thư có thi vị thế nào . Đặc sắc thơ PTT là thơ
t́nh có vị Thiền . Điều này lạ. Bởi v́ t́nh
là khổ luỵ. Thiền là cắt đứt nghiệp
chướng. PTT đă tạo nên sự kết hợp này
thế nào ? xin đọc
21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lư một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
22
Th́ thôi tóc ấy phù vân
Th́ thôi lệ ấy c̣n ngần dáng sương
Th́ thôi mù phố xe đường
Thôi th́ thôi nhé đoạn trường thế thôi
Nội dung đoạn
thơ là câu chuyện t́nh yêu, là những lời yêu PTT gửi đến
người t́nh, nhưng những ư tứ Thiền lại hiển
lộ rất rơ trong cái nh́n , trong ngôn ngữ , trong tâm
thức nhà thơ : phù vân ,
sương , mù , đoạn trường . Trong khổ
thơ này PTT không dụng ư thể hiện tư
tưởng Thiền , nhà thơ chỉ mượn từ
ngữ, ư tứ để diễn tả tâm trạng yêu. PTT nh́n người yêu mà suy gẫm, lúc nằm , lúc về , h́nh hài ấy,
dáng vẻ ấy : môi thanh xuân đào lư đấy , tay
đơm muà hè, gót dời hoa xuân. Nhưng mà hiện
hữu ấy , tóc ấy chỉ là phù vân; lệ ấy , dáng ấy mong manh
như sương. Em tuy đẹp , tuy dào dạt đào lư,
dào dạt yêu thương trong mắt lệ, em giưă
cội thu xanh , giưă vàng phố mây trời, nhưng chỉ là vô thường
, chỉ là khổ ( đoạn
trường ) chỉ là vô minh( mù ) , là hư huyễn( phù vân ) . Trái tim nhà thơ
thốt lên nỗi buồn thương không sao ngăn
được. Nhà thơ kêu lên nhiều lần “ th́ thôi “, chấp nhận
thực tại, để rồi buộc phải nói
lời ly tan “ thôi th́ thôi nhé” .Bản chất cuả hiện
hữu là thế , và t́nh yêu, dù thăng hoa đẹp
đẽ thế nào cũng không thoát ra được. Phạm
Thiên Thư- người t́nh,
chỉ c̣n mong
“Mai anh chết dưới cội
đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu “
Thiền
vị đem đến những giá trị thẩm mỹ
ǵ cho thơ PTT ?
Thơ PTT sang
trọng, thanh cao là nhờ ở Thiền Vị. PTT cũng
viết về đoạn trường, chia li, cũng
viết về mắt , về môi , về dáng đứng,
dáng nằm cuả người con gái, nhưng tuyệt nhiên
không nhuốm mùi nhục thể, tuyệt nhiên không rực
lưả dục vọng. Cũng là nước mắt,
cũng là ly tan, nhưng không có hờn ghen oán trách t́nh
phụ, không bi luỵ tang thương. Thiền vị làm
thăng hoa thơ t́nh PTT
Thật khác
xa với cái nh́n tang thương bi đát cuả Nguyễn
Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc
“…Ngọn tâm hoả đốt
dầu nét liễu
Giọt hồng băng thấm ráo làn
son…
…Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo dầu
bến mê…
…Phong trần cả đến sơn
khê
Tang thương đến cả hoa
kia cỏ này…”
Sự khác biệt ấy là ở chỗ PTT đă “ ngộ”
được chân lư Thiền, trong khi Nguyễn Gia
Thiều c̣n đang ngụp lặn ở bến mê.
Thật thú vị nếu tiếp
tục đi sâu hơn nưă trong việc xem xét ảnh
hưởng cuả Thiền trong thơ ca. Chẳng hạn
Nguyễn Du trong bài Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh
thạch đài cho biết ông đă từng
đọc hàng ngàn biến kinh Kim Cang .
Ngă độc Kim Cang thiên biến linh
Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ
Tài tri vô tự thị chân kinh.”
( Ta đọc hơn ngàn biến
Kinh Kim Cang, những ư nghĩa sâu kín trong đó phần
nhiều ta không rơ. Đến hôm nay tới đài chia kinh
này mới biết rằng Vô tự chính là Chân kinh.)
Tuy nhiên điều ấy nằm
ngoài phạm vi cuả bài viết này : Một cách tiếp
cận thơ Thiền .
Quả là nếu tiếp cận
đúng hướng thơ Thiền , người
đọc có thể thưởng thức được
những giá trị, những khoái cảm thẩm mỹ
đặc biệt mà thơ Thiền đem lại. Nh́n
trong quá tŕnh phát triển, những bà Kệ thuần tính cách
nghi lễ, khi được diễn đạt bằng
ngôn ngữ h́nh tượng biểu cảm, đă chuyển
hoá thành thơ .Thơ Thiền
cuả các Thiền sư có sự chuyển hoá ấy. Và khi
Thiền thâm nhập được vào trái tim nhà thơ
thế tục, Thiền vị
tạo nên cái đẹp mới lạ trong những áng thơ,
có khi đọc không
hiểu, song vẫn có thể
cảm nhận được qua h́nh tượng tư
tưởng-thẩm mỹ như thơ Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư. Con
đường phát triển ấy c̣n nhiều hưá
hẹn cho thơ ca Việt Nam.
Tháng
10 / 2007
___________________________________________________________________________
(1) Thiền
Uyển Tập Anh
(2), (12), (14) “101 Giai Thoaïi Thieàn” – Thomas Cleary – Nxb Tp Hồ
Chí minh 2001. Tr.144
(3) “Đức Phật Đă Dạy Những Ǵ” - Ḥa thượng
WALPOLA RAHULA - Thích Nữ Trí
Hải dịch -1998
(4), Bài thuyết pháp
thứ 2 cuả Đức Phật Anattalakkhana Sutta -
Kinh Vô Ngă Tướng
(5) Thập
nhị nhân duyên : Suốt
thời gian bảy ngày đầu tiên sau khi thành đạo,
Đức Phật ngồi không lay động
dưới tàng cây Bồ
Đề . Trong đêm cuối tuần,
Ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên
(Paticca Samuppada) , đó là Vô minh , nghiệp , Thức ,Danh sắc , Lục nhập , X