Một cách tiếp cận thơ Thiền

Bùi Công Thuấn

 

Thơ ca dân tộc có một bộ phận thơ Thiền đặc sắc. Nhiều bài thơ cuả các Thiền sư từ  thời

Lư (1010-1225 )-Trần (1225-1400) vẫn c̣n được truyền tụng  đến ngày nay, bởi v́ nó chưá đựng vẻ đẹp tư tưởng và nghệ thuật rất riêng. Ảnh hưởng Thiền khá rơ trong suốt tiến tŕnh thơ ca dân tộc. Ngày nay vẫn có những nhà thơ Việt Nam tiếp tục tiến tŕnh ấy. Nhưng đọc thơ Thiền không dễ, cần một cách tiếp cận khác với cách đọc thơ thế tục. Bài viết này xin  thử đề xuất một con đường đến với thơ Thiền, thay cho cách đọc cảm tính lâu nay.

 

I. Kệ và Thơ Thiền

             

 Kệ là một h́nh thức văn chương nghi lễ cuả Phật giáo,  như Kệ dâng hương , Kệ dâng hoa , Kệ vô thường buổi sớm.. Các Thiền sư thường làm  kệ “ thị tịch “ để căn dặn đệ tử trước lúc qua đời . Tiểu truyện về các Thiền sư thường có những bài kệ. Những bài kệ ấy vưà nói về giáo lư Phật vưà chưá đựng chỗ độc đáo chứng ngộ cuả mỗi người . Thiền Uyển Tập Anh  nổi tiếng với những bài kệ như Thị Đệ Tử cuả Thiền sư Vạn Hạnh, Cáo tật Thị chúng cuả đại sư Măn Giác. Khoá Hư Lục cuả Trần Thái Tông (1218 - 1277)  Kệ ngũ giới , Kệ bốn núi ...

 

Về cơ bản ,  Kệ dạy giáo lư Phật bằng ngôn ngữ khái niệm. Nhưng khi chuyển  thành ngôn ngữ h́nh tượng , Kệ trở thành thơ Thiền , ư nghiă tư tưởng chuyển hoá thành ư nghiă nghệ thuật.

                       

Chẳng hạn

 

Bát Nhă chân vô tông

Nhân không, ngă diệc không

Quá, hiện, vị lai Phật

Pháp tính bản lai đồng. (1)

                             ( Lư Thái Tông. 1028-1054 )

Dịch:

“Bát Nhă” Thực vô tông

Người không, ḿnh cũng không

Phật trước, nay, sau nữa

Pháp tính vốn tương đồng

                            (Ngô Tất Tố dịch )

 

Bài kệ này chỉ diễn đạt giáo lư  về Chân Như . Ngôn ngữ kệ là ngôn ngữ khái niệm, không có h́nh tượng . Kệ cuả sư Vạn Hạnh đă có bước chuyển hoá thơ .

 

Ngày 15 tháng 5 năm Thuân thiên thứ 9 (1018) sư không bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ:

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uư

Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi (1)

                     ( Vạn Hạnh Thiền sư )

Sư lại bảo các đệ tử: - Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ. Một lát sau sư qua đời.

 

Lời cuả Thiền sư Mugaku nói với quân Mông cổ sau đây có cả chất kệ và chất thơ. (2)

 

Gom toaøn theå theá giôùi

Chaúng vöøa moät ñaàu gy

Vaïn phaùp voán laø khoâng

Voâ thöôøng vaø voâ ngaơ

Löôơi göôm boïn  hung noâ

Laáp loaùng caét xuaân phong .

                             (Thieàn sö   Mugaku )

                                                                                     

II. Một Cách tiếp cận thơ Thiền     

 

Thơ Thiền là thơ tư tưởng. Cốt lơi tư tưởng thơ Thiền là giáo lư Phật giáo . V́ thế muốn tiếp cận  thơ Thiền , người đọc  phải  ít nhiều có được căn bản  tư tưởng Phật . Không có tri thức này th́ không thể cảm thụ thơ Thiền, v́ mỗi bài thơ là một chứng ngộ tại thế về Chân Như cuả Thiền sư.

 

Căn bản giáo lư Phật Giáo (3) là  Tứ Diệu Đế,  Mười Hai Nhân Duyên,  Bát Chánh Đạo, và thuyết vô ngă . Giáo lư này được Đức Phật giảng dạy ngay sau khi Người thành đạo .

 

Tứ Diệu Đế là bốn chân lư cao cả do  Phật đă t́m ra . Đó là Khổ ( dukkha ),Tập (Samudaya), Diệt (Nirodha), Đạo (Magga). Bản chất cuả cuộc sống là khổ  bất toàn, vô thường, trống rỗng, giả tạm . Sinh , lăo, bệnh, tử, ngũ uẩn là khổ. Nguyên nhân cuả khổ là khát ái , là dục vọng, là ư chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái sinh, muốn trở thành, muốn tăng trưởng, muốn tích lũy không ngừng. Bao lâu c̣n khát ái trở thành, th́ sinh tử luân hồi vẫn tiếp tục. Muốn tận diệt khổ người ta phải diệt cội gốc chính của khổ là dục vọng, diệt tham, diệt sân, diệt si. Chấm dứt khổ là Niết Bàn. Niết-bàn là Chân lư tuyệt đối hay Thực tại tối hậu. Phật nói : “Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục.“ Niết-bàn  có thể thực hiện ngay trong cơi đời này. Để đạt tới Niết bàn con người phải tu tập theo Bát Chánh Đạo. Ấy là Chánh kiến (thấy đúng), Chánh tư duy (nghĩ đúng),Chánh ngữ ( nói đúng), Chánh nghiệp ( làm đúng ), Chánh mạng ( sống đúng ), Chánh tinh tiến ( siêng năng đúng), Chánh niệm ( nhớ đúng ), Chánh định ( tâm an trụ ).

Phật giáo c̣n nói đến luật nhân quảnghiệp báo. Trên đường tái sanh luân hồi, con người chịu ảnh hưởng của nghiệp. Vô minhÁi dục  là nguyên nhân chính tạo ra Nghiệp. Chính Vô MinhÁi Dục là cội rễ của mọi tội ác.  Nghiệp và Quả đều tùy thuộc nơi Tâm. Hành động (Nghiệp) và hậu quả của hành động ấy (Quả) đều do Tâm tạo nên . Mục tiêu tối hậu của người Phật tử là tận diệt Nghiệp.  Trong bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, có những lời dạy : “ Hăy gieo giống tốt, Ta sẽ hưởng quả lành.”

Thuyết Vô Ngă (4) cho rằng ư tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt , gọi là Tôi, Ngă,  cái Ta, hay Linh hồn,  chỉ là một niềm tin sai lạc . Cái mà ta gọi là Tôi hay Ngă chỉ là một kết hợp của các uẩn vật lư và tâm linh, hoạt động tương quan mật thiết lẫn nhau trong một ḍng biến chuyển từng sát na, chịu chi phối của luật nhân quả . Tất cả đều vô thường. Phật giáo phủ nhận hiện hữu của  Ngă,  linh hồn, thượng đế.  Sự sống đă phát sinh, tồn tại và tiếp diễn là do mười hai nhân duyên :  đó là Vô minh , nghiệp ,  Thức ,Danh sắc , Lục nhập , Xúc ,Thọ , Ái , Thủ , Hữu ,Sinh ,Lăo , Tử . (5) Nếu  đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá tŕnh .Vô minh diệt th́ Nghiệp diệt, Nghiệp diệt th́ thức diệt, thức diệt th́ danh sắc diệt,.. cho đến khi sinh lăo, tử, ưu bi khổ năo... diệt.

 

            Đọc thơ Thiền , người đọc sẽ nhận ra những tư tưởng căn bản trên nơi sự chứng ngộ cuả các Thiền sư . V́ thế thơ Thiền trước hết là thơ tư tưởng , không phải là thơ kiểu thơ phản hánh hiện thực hay thơ giăi bày tâm trạng

 

III. Thiền Tông (6)

 

Thơ Thiền thể hiện tư tưởng Phật giáo nhưng có những đặc sắc riêng cuả Thiền .Thiền là đạo giác ngộ h́nh thành qua kiến giải Trung Hoa , là cách tu chứng khác với Phật giáo Ấn độ.

 

Thiền khởi từ Thiền thoại : ”Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu”, nghĩa là Phật giơ lên cành hoa, Ca Diếp nh́n cành hoa và mỉm cười. Ca Diếp đốn ngộ tâm truyền , trực tiếp từ hành động cuả Phật , không qua kinh điển . Phật phó chúc Thiền cho  Ca Diếp, và từ Ca Diếp tâm ấn Phật được tiếp tục truyền thừa đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Trung Hoa . Bồ Đề Đạt Ma ( -528) sang Trung Quốc vào năm 520 , mang theo một thông điệp , được coi là tôn chỉ cuả Thiền  :

 

Giáo ngoại biệt truyền
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật .

        ( Truyền riêng ngoài giáo / Chẳng lập văn tự /Trỏ thẳng tâm người / Thấy tánh thành Phật )

 

Thiền đặt nặng lư Giác Ngộ . Tu chứng theo Thiền là nỗ lực tự chứng, nỗ lực tự ḿnh, trong nội tâm ḿnh, để ”Kiến tánh thành Phật. Phương pháp cuả Thiền  là không dùng văn tự , mà tác động trực tiếp vào tâm. Bởi v́ ” Tâm tức Phật / Phật tức tâm “ . Vô Minh , Nghiệp quả , Ái dục cũng do tâm .Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên hoặc giáo lư Vô Ngă chỉ là người hướng đạo trí thức vạch ra  con đường thực hiện sinh hoạt Phật giáo. V́ thế Thiền tập trung vào Phát tâm , an trú tâm và hàng phục  tâm .

 

Hai bộ kinh quan trọng cuả Thiền là kinh Lăng Già ( Lankavatara-Sutra)  kinh Kim Cang (7)          

Kinh Lăng Già có thuyết “ Như Lai tạng ảnh hưởng đến toàn bộ Thiền tông. Như Lai tạng là “: Tất cả chúng sinh đều tàng chưá Như Lai, tức là Phật tính . Phật tính  bị khách trần che phủ nên phải tu tập bích quán để trừ dứt khách trần cho Phật tính thanh tịnh  hiển lộ. Kinh Lăng Già chú trọng ở sự ngộ lư , nội chứng , rời bỏ ngôn thuyết , văn tự , vọng tưởng, nhấn mạnh tự tu, tự ngộ, tự chứng để đạt tới cảnh giới “ tự giác thánh trí

 

Ư tưởng nền tảng cuả kinh Kim Cang là giáo lư về Tính KHÔNG (8) . Tất cả vạn hữu đang hiện hữu, tự tính của nó là Không. Ư niệm Không không phải là hư vô , mà là trạng thái vượt qua nhị nguyên tử - sinh , vượt qua hữu - vô , vuợt qua sắc tướng . Đó là  thể tính chân như cuả hiện hữu , là Như Lai  . Thực tướng  ấy không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không thể dùng ư niệm để ư niệm , thấy Như Lai là thấy “thực tại vô tướng” .  

Người làm thơ Thiền có khi thể hiện cái nh́n cuả  kinh Hoa Nghiêm. Dưới mắt người hành đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm, con ong, cái kiến cho đến cọng cỏ, bụi gai, không cái ǵ mà không dễ thương, tất cả đều là Phật,  tất cả pháp, kể cả sơn hà đại địa đều nhận lực chi phối của huệ Như Lai, đều là Pháp thân Phật. (9)

III.Thi Pháp thơ Thiền

 

Thơ Thiền được làm theo những nguyên tắc nhất định, có thể gọi là thi pháp . Thực ra không có hẳn một trường phái thơ Thiền , v́ thế cũng không hề có lư luận về thi pháp thơ Thiền. Tuy nhiên, khi đọc thơ Thiền, người đọc có thể nhận ra một vài đặc trưng trong phép làm những bài kệ - thơ Thiền cuả các Thiền sư.

 

1.Thơ Thiền là kinh nghiệm tu chứng cuả Thiền sư, laø thôøi khaéc   saùng loaø cuả tâm thanh ṭnh , an nhiên,  đạt tới thực tại vô tướng , thể tính chơn như cuả hiện hữu. Ánh sáng cuả sự chứng ngộ ấy tạo nên cái đẹp thơ .

 

2. Thơ Thiền được viết bằng kiểu ngôn ngữ vô ngôn,  xuất phát từ cách sử dụng ngôn ngữ cuả các Thiền sư. Đối với Thiền, ngôn ngữ được xem là lừa dối và sai lạc để thấu hiểu chân lư. Kinh Lăng Già khẩn thiết bảo ta rằng ngôn ngữ là một phương tiện hoàn toàn thiếu thích đáng để diễn đạt và truyền đạt nội thể của Giác Ngộ. Kinh Kim Cang viếtVô pháp khả thuyết thị danh thuyết pháp

( thuyết pháp là :  không có pháp nào có thể thuyết ấy là thuyết pháp) . Thực tại vô tướng , thể tính chơn như không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, hay bằng ư niệm.

 

V́ thế đọc thơ Thiền , người đọc phải t́m ra cách nói cuả tác giả , nắm lấy diệu lư Thiền, vượt qua ngôn ngữ . Các Thiền sư phải trải qua vô số thử thách ê chề mới đạt tới được tuyệt kỹ này. Cách nói vô ngôn có thể gói trong những thí dụ sau (10) : 1. Nói nghịch,  2. Nói vượt qua,  3. Nói chối bỏ,  4. Nói quyết,  5. Nói nhại,  6.Hét,   7. Phép im lặng,   8. Lư luận ṿng tṛn.

 

Nói nghịch là cách noí nghịch lư. Phó Đại Sĩ nói :

 

Tay không: nắm cán mai

Đi bộ: lưng trâu ngồi

Theo cầu qua bến nước /

Cầu trôi nước chẳng trôi .

 

Nói vượt qua là cách nói  thoát khỏi nhị nguyên  khẳng định và phủ định .

Nói chối bỏcùng một người, và cùng một câu hỏi, lúc  nói “”, lúc nói “ không”.

Nói quyết cách nói lạc đề:

Một ông tăng hỏi Thiền sư Hoa Sơn (?): “ Thế nào là Phật”,

Sư đáp : “ Tôi biết đánh trống, tum đùng đùng 

 

Nếu hiểu vạn pháp (mọi hiện hữu) đều có Phật Tính , và Phật tính hiện trong vạn pháp,  th́ dù trả lời lạc đề thế nào, h́nh ảnh trong câu trả lời vẫn dẫn đến Như lai.

 

Nói nhại là nhại lại câu hỏi cuả người hỏi:

 

 Một ông tăng hỏi Trường Sa:  “Làm sao chuyển non sông đất nước trở về cái tự kỷ?”

Sư đáp : “Làm sao chuyển cái tự kỷ thành non sông đất nước?”

Đối với các Thiền sư, lời nói, ngôn ngữ  là một thứ tiếng la, tiếng , kêu thoát ra từ sự thân chứng nội tại ; nó vô nghĩa, v́ thế muốn hiểu  Thiền phải tự hiểu chính ta, không phải hiểu nghĩa của ngôn ngữ  phản chiếu những ư niệm. Thiền không thể nói được cho những người chưa có tự chứng

3. Thơ Thiền sử dụng một số diễn tả đă thành “ điển “ cuả Phật giáo, như điển hoá Thiền thoại; diễn tả cái Cócái Không nhị nguyên bằng những chữ như sát (giết chết) và hoạt (cho sống), đoạt (cướp lấy) và dữ (ban cho), xúc (khẳng định) và bối (phủ định), bằng từ vựng Phật giáo như khổ, dục, vô thường, vô ngă,  tâm, an nhiên thanh tịnh v.v...

 

Ta gặp h́nh ảnh diễn tả tư tưởng Phật quen thuộc như : Tất cả các pháp là hữu vi, đều giống như sao đêm (tinh), như mắt loạn(), như ngọn đèn (đăng), như huyễn thuật (ảo), như sương mai (lộ), như bọt nước(bào), như cơn mộng (mộng), như ánh chớp (điện), như đám mây nổi (vân).

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uư

Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi

            ( Vạn Hạnh Thiền sư )

Hoặc:

 

Hết thảy pháp hữu vi
Như chiêm bao, huyễn thuật,
Như bọt nước, ảo ảnh,
Như suơng mai, điện chớp,
Hăy quán chiếu như vậy.

          ( bài kệ trong kinh Kim Cang )

 

Những h́nh ảnh quen thuốc ấy có nghiă riêng cuả giáo lư Phật. Tinh tú biểu tượng cho cái thấy. Mắt bệnh là ví dụ cho tướng của đối tượng.  Ngọn đèn thức uẩn. Huyễn thuật  cư xứ, chỉ  khí thế gian, Sương mai là ví dụ cho thân thể. Bọt nước là thọ dụng. Chiêm bao  thời gian quá khứ. Điện chớp là thời gian hiện tại. Vầng mây  thời gian vị lai.

 

4. Một bài thơ Thiền có thể có hai lớp nghiă. Lớp nghiă nghiă tư tưởng , diễn tả sự chứng ngộ cuả tác giả về Chân Như, và lớp nghiă nghệ thuật, do hệ thống h́nh tượng thơ gợi ra. Lớp nghiă này được hiểu theo cách hiểu cuả cộng đồng, bằng tri thức ,văn hoá thẩm mỹ cuả cộng đồng . Hai lớp nghiă này có khi đồng nhất, có khi là riêng biệt, tuỳ theo cách sử dụng kiểu ngôn ngữ cuả Thiền sư. Nếu ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ dạy đệ tử, lời dạy trực tiếp cho người chưa chứng ngộ, đó là kiểu ngôn ngữ đời thường, hai lớp nghiă này thường đồng nhất. Nếu Thiền sư biểu lộ sự chứng ngộ , th́ đó là kiều ngôn ngữ vô ngôn,  là tiếng kêu vô nghiă . Lúc ấy,  nghiă tư tưởng và nghiă nghệ thụật là tách biệt, có khi không có quan hệ ǵ với nhau. V́ thế những cách đọc bằng phương pháp truyền thống,  phân tích nhân vật trữ t́nh , phương pháp Tiểu Sử, Phân Tâm Học , Phản ánh Luận , Cấu Trúc Luận … đôi khi bất lực trong việc giải mă thơ Thiền

 

IV Thử đọc một vài bài thơ Thiền

 

1Thiền sư Không Lộ ( ?-1119 )

 

Trạch đắc long xà địa khả cư

Dă t́nh chung nhật lạc vô dư

Hữu th́ trực thướng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

                                                      Dịch:

Kiểu đất long xà chọn được nơi

T́nh quê lai láng chẳng hề vơi

Có khi xông thẳng lên đầu núi

Một tiếng kêu vang, lạnh cả trời

            ( Kiều Thu Hoạch dịch)

 

Hai câu đầu là trạng thái an lạc cuả Thiền giả. Chọn được đất  rồng rắn có thể ở được . T́nh quê vui vẻ (lạc) suốt ngày,  không ǵ hơn. An nhiên, không vướng mắc sự đời, đó là trạng thái“Ưng vô sở trú “ . Sự vật (long xà điạ), con người (tác giả), thời gian (chung nhật) cùng hợp nhất. Lời thơ như là kể, là tự nói chuyện với chính ḿnh, v́ thế câu thơ không có chủ thể trực tiếp cho hành động “trạch đắc“(chọn được), hành động “”(ở), và trạng thái “lạc vô dư” (an vui không ǵ hơn ). Nếu tứ thơ tiếp tục phát triển theo hướng miêu tả cuộc sống nhàn nhă thảnh thơi, th́ chưa hẳn đă là thơ Thiền, bởi an vi, “vô vi” cũng là cách sống cuả nhà Nho xưa, bài thơ sẽ trở thành thơ Nhàn cuả nhà Nho.

 

Hai câu sau là phút toả sáng sự chứng ngộ. Có lúc lên thẳng ngọn núi trơ trọi . Kêu một tiếng  dài lạnh cả thái hư. Chứng ngộ Thiền là tự chứng , tự nội tâm ḿnh, đơn độc . Người tu Thiền phải chiến đấu quyết liệt với chính ḿnh, như người leo núi đơn độc. Núi ở đây có thể hiểu theo cách Trần Thái Tông nói về “ bốn núi “ : sinh, lăo, bệnh, tử . Núi chính là ngũ uẩn , là vô minh, là nghiệp , là sắc tướng vô thường  mà người tu Thiền phải vượt qua để đạt đến Ngă Không , đạt đến tự tánh. Theo Tổ Huệ Năng (11), tu Thiền là nỗ lực“ kiến tánh thành Phật “. Chứng  ngộ là thấy được tự tánh  . Con người,  vũ trụ là một,tất cả tức một, một tức tất cả”. Con người có uy lực cuả vũ trụ.  Bởi v́ tự tánh bao hàm toàn thể vũ trụ, tự do tự tại, đầy sinh lực sáng tạo, mà đồng thời cùng tự tri tự giác.V́ thế Không Lộ Thiền sư  kêu một tiếng dài làm cả thái hư lạnh lẽo. Đó là cách nói biểu hiện sự chứng ngộ.

 

 Trong thực tế sẽ chẳng có ai lên thẳng đỉnh núi cô độc , ở đó một ḿnh với chính ḿnh, kêu dài một tiếng  làm lạnh cả thái hư .Tại sao hai câu đầu là tâm an lạc mà hai câu sau lại là trạng thái cô độc tuyệt đối: đỉnh núi cô độc và con người cô độc trên đỉnh núi ? Tại sao  con người không ở yên trong an lạc mà lại lên thẳng đỉnh núi cô độc kêu lên một tiếng dài , tiếng kêu tan vào thái hư? Rơ ràng là hai t́nh huống ngôn ngữ không logic với nhau , thậm chí tương phản nhau . Người đọc nhận ra kiểu ngôn ngữ  vô ngôn , trong cách nói quyết. Tứ thơ là những  h́nh ảnh vô nghiă. Nó chỉ là tiếng kêu từ tâm chứng ngộ  .Ngôn ngữ không phản ánh hiện thực hay phản ánh con người nhà thơ..

 

 Để hiểu h́nh ảnh núi , xin đọc bài kệ cuả thiền sư Ranryô (12)

 

Thiền định và tŕ niệm

      Như hai toà núi lớn

            Căn cơ người sai khác

            Phật tánh vốn chung đồng

 

            Kẻ lên được tận đỉnh

      Thấy trăng chiếu muôn nơi

            Thương người thiếu tín tâm

            Mờ mịt giưă dốc ghềnh

                                               

RanryÔ giúp ta hiểu  kẻ lên tận đỉnh núi “ cuả Không Lộ Thiền sư là “ đỉnh núi cuả thiền định và tŕ niệm “ , con đường dẫn đến giác ngộ. Đạt tới đỉnh núi là đạt tới chứng ngộ.

 

Bằng cách đọc  theo phản ánh luận, kết hợp với việc phân tích nhân vật trữ t́nh, và “tán “ thơ “, có người hiểu hai câu thơ cuả Không Lộ Thiền Sư thế này: (13)

 

“ Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng

Một tiếng kêu vang lạnh cả trời “

 

Hai câu thơ cao khiết mà cô đơn lạ! Cái ư tưởng nào mà chợt đến, chợt đi ( có lúc ), mà táo bạo ( trèo lên thẳng) với tâm thế hết sức cô đơn (đỉnh núi trơ trọi). Tiếng kêu ấy thảng thốt biết bao làm cho cả bầu trời rùng ḿnh, ớn lạnh. Phải chăng đây là khát vọng vươn tới cái cao cả, cái nằm ngoài giới hạn cuả con người ?Phải chăng đây cũng là ước mơ cháy bỏng hoà đồng với thiên nhiên, ngang tầm với vũ trụ? Dù sao th́ hai câu thơ tự chắp cánh cho ḿnh, một thời đă làm run lạnh cả bầu trời ấy, đến nay vẫn làm chúng ta giật ḿnh ngơ ngác. V́ nó lớn lao quá mà rất đỗi thiết tha. Nó rất “con người”. ( tôi xin không có lời b́nh về cách hiểu này )

 

Cái hay cuả bài thơ này là ǵ ? là sự thể hiện tư tưởng Phật  hay ở h́nh tượng và  nghệ thuật thơ ?

 

 Có thể thấy rằng, cái hay cuả bài thơ thể hiện ở tính độc đáo trong cách diễn tả sự chứng ngộ Phật và ở h́nh tượng thơ mới lạ . Ở Thiền , sự chứng ngộ cuả mỗi Thiền sư là sự chứng ngô riêng , độc đáo và đột khởi , đốn ngộ. Không Lộ Thiền sư cũng chứng ngộ như thế: lên thẳng đỉnh núi cô độc, kêu dài một tiếng làm lạnh thái hư. Đó là ư nghiă tư tưởng . Ư nghiă nghệ thuật cuả h́nh tượng thơ lại đem đến cho người đọc những mỹ cảm khác .Đó là vẻ đẹp tâm hồn dung dị cuả nhà thơ hoà ḿnh trong đời sống dân dă , đằm thắm trong cái t́nh quê suốt ngày vui không ǵ hơn. H́nh ảnh nhà thơ có lúc đă từng  lên thẳng đỉnh núi cô độc, kêu một tiếng dài , âm vang làm lạnh thái hư. (Những người ở rừng ở núi thường dùng tiếng kêu dài , hú dài để gọi nhau) Có lẽ nhà thơ đă khám phá ra sức mạnh cuả chính ḿnh trong thiên nhiên và trong thái hư (vũ trụ) . Bài thơ gợi ra h́nh ảnh một Thiền sư ở giưă cuộc sống, giưă thiên nhiên , vưà ung dung giản dị , vưà mạnh mẽ phi thường , vượt lên tất cả , hoà nhập tất cả ,tất cả tức một, một tức tất cả”.

 

2. Thieàn sö   Mugaku (14) là người sáng lập Thiền Tông Nhật Bản . Sư sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc , ngộ Thiền từ 12 tuổi . Năm 1275 quân Mông cổ tràn vào Trung Quốc . Mugaku lúc ấy đă xuất gia, di tản khỏi chùa . Một năm sau chiến sự lại tràn đến, sư ở lại chuà . Khi ấy  Mugaku đang tĩnh toạ tại chánh điện, quân Mông Cổ tràn vào. Chúng kề gươm vào cổ ngài mà uy hiếp . Ngài điềm nhiên đọc một bài kệ , quân Mông  Cổ hạ gươm rồi rút lui. Bài kệ như sau:

 

Gom toaøn theå theá giôùi

Chaúng vöøa moät ñaàu gy

Vaïn phaùp voán laø khoâng

Voâ thöôøng vaø voâ ngaơ

Löôơi göôm bọn hung noâ

Laáp loaùng caét xuaân phong .

                      (Thieàn sö   Mugaku)

 

Trước hết bài kệ là cách sư Mugaku trả lời cho sự uy hiếp cuả quân Mông Cổ. Chúng lấy cái chết để đe doạ Thiền sư. Ngài noí : toàn thể thế giới là quá nhỏ, gom toàn thế thế giới  chẳng vưà một đầu gậy. Mọi hiện hữu (vạn pháp) đều là Không , vậy sự hiện hữu cuả Ngài là vô ngă, nào có nghiă  ǵ. Nếu lưỡi gươm tàn bạo cuả quân Mông  lấp loáng,  cũng ch́ là cắt vào gió xuân , cắt vào Không . Lời cuả sư chỉ ra rằng,  sức mạnh vật chất tàn bạo cuả quân Mông Cổ, dù có chém đầu ngài, cũng chỉ là vô nghiă . V́ chúng là Không, và chúng đối diện với Không . Nội dung tư tưởng cuả bài kệ là triết lư tính Không về bản thể cuả hiện hữu vô thường vô ngă cuả Phật.

 

Cái hay cuả bài kệ là ở chỗ Thiền sư đă làm hiển lộ sức mạnh, uy lực cuả sự chứng ngộ, con người , vũ trụ là một, tự do, đầy sinh lực sáng tạo . Đối diện với sức mạnh ấy , quân Mông Cổ phải buông gươm.

 

Nhưng bài kệ c̣n hay ở h́nh tượng thơ được nhà sư dụng để thể hiện tư tưởng Phật. Nó vưà tạo ra cái thẩm mỹ, vưà bộc lộ tŕnh độ giác ngộ và uy lực cuả tác giả

Gom toaøn theå theá giôùi

Chaúng vöøa moät ñaàu gy

 

Cả thế  giới gom lại chẳng vưà một đầu gậy , con người này có tầm vóc , uy lực lớn lao mạnh mẽ đến thế nào! Con ngưới ấy có thể gom cả thế giới lại, và cả thế giới là quá bé nhỏ trong tay con người . Một tứ thơ như vậy quả là lạ . Nó chưá đựng sức mạnh Phật .                                               

Löôơi göôm bonï hung noâ

Laáp loaùng caét xuaân phong

 

Tứ thơ cuối sáng lên một cái đẹp nghệ thuật khác : lưỡi gươm lấp loáng cắt gió xuân. Tất cả sự tàn bạo cuả quân Mông Cổ trở nên vô nghiă v́ cắt vào Không, nhưng tứ thơ có sự chuyển nghiă , tất cả sự tàn bạo , đẫm máu, thăng hoa thành cái đẹp “ lấp loáng trong gío xuân “. Không c̣n máu chảy , đầu rơi , tang thương, chết chóc. Sức mạnh tàn bạo cuả sự chết chuyển hoá thành sức mạnh sáng láng cuả sự sống ( muà xuân )

 

Nghiă tư tưởng (Thiền) và nghiă nghệ thuật cuả tứ thơ có sự chuyển hóa đột ngột , mạnh mẽ , mới lạ . Ở bài này sử dụng ngôn ngữ đời thường , lời thơ là lời Thiền sư nói với quân Mông Cổ, v́ thế nghiă tư tưởng và nghiă nghệ thuật có thể trùng với nhau.   

           

3. Măn Giác đại sư (1052-1096)

 

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân lai bách hoa khai

Sự trục nhân tiền quá

Lăo ṭng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai.

 

Dịch:

Xuân ruổi, trăm hoa rụng   

Xuân tới, trăm hoa cười   

Trước mắt việc đi măi

Trên đầu già đến rồi       

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua, sân trước, một cành  mai.

                              ( Ngô Tất Tố dịch)

 

Bốn câu đầu là h́nh ảnh diễn tả tính chất vô thường , vô vọng, cuả hiện hữu trong không gian , thời gian. Cuộc sống luôn vận động trong nhân duyên, có sinh th́ có diệt, luân hồi măi trong cơi sinh tử . Xuân đến rồi xuân đi , hoa nở rồi hoa rụng. Sự việc cứ trôi đi trước mắt .Tuổi già đến trên đầu. Bản thể cuả hiện hữu là vô thường , chẳng có ǵ tồn tại . Con người chẳng thể níu kéo được ǵ, chẳng thể níu kéo tuổi xuân cho ḿnh .

 

Hai câu cuối là sự chuyển hoá  lạ lùng, như được thốt ra từ sự chứng ngộ . Đừng tưởng xuân tàn th́ hoa rụng hết . Hoa vẫn nở đấy :  Đêm qua, một cành mai đă nở trước sân. Măn Giác đại sư đă vượt qua vô thường, vượt qua tử sinh, vượt qua luân hồi.  Đại sư đă nh́n thấy  cành mai nở trước sân , như Ca diếp mỉm cười chứng ngộ khi nh́n thấy  đức Phật giơ cành hoa lên .  Măn Giác đại sư cũng đang mỉm cười . Cành mai ấy là cành mai tư tưởng, sáng lên một cách lạ lùng trong bóng tối cuả vô thường đă lùi lại phiá sau. Đó là ư nghiă tư tưởng Thiền cuả bài kệ.

 

Đọc bài thơ này bằng phương pháp cấu trúc luận, Như Huy có những kiến giải thú vị về ư nghiă bài thơ, nhưng Như Huy chưa phát hiện ra sự chứng ngộ cuả măn Giác (15)

 

Ở bài kệ này, ngôn ngữ là lời “ thị đệ tử “, là lời dạy bảo trực tiếp, ngôn ngữ đời thường . Nhưng lời dạy ấy được diễn tả bằng h́nh ảnh, tạo nên tứ thơ , Kệ trở thành thơ . H́nh tượng nghệ thuật cuả thơ mang đến một ư nghiă khác. Đó là cái nh́n thanh xuân cuả một người tuổi già đă đến trên đầu . Trong cái nh́n ấy muà xuân tồn tại măi, sự sống vẫn tươi tắn , cái đẹp vẫn tồn tại, dù tất cả vẫn qua đi như một quy luật không cưỡng lại được . Tứ thơ “ Đêm qua, sân trước, một cành  mai.” Là một tứ thơ mới lạ cả về nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ. Nhà thơ chọn trong trăm hoa rụng một cành mai tươi nở . Cái đẹp trong ư thức sáng tạo cuả nhà thơ là cành mai, là muà xuân, là tuổi trẻ, là sự sống và một niềm tin vĩnh cửu. Đối với người Việt Nam , cành mai luôn là h́nh ảnh gần gũi cuả mọi nhà mỗi khi xuân về, chẳng bao giờ thiếu muà xuân trên đất nước trăm hoa này. Điều này giúp chúng ta hiểu được tại sao bài thơ gắn kết lâu bền trong thi ca dân tộc và trong  tâm hồn người Việt như vậy.

 

4. Thơ Thiền Bùi Giáng (16)

 

Thơ Bùi Giáng có tư tưởng Thiền. Bùi Giáng nhận ra “ tinh thể đười ươi “ trong thân phận người .

 

Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.

 

Trong Thiền Luận ,  Daisetz Teitaro Suzuki   nhắc đến Thiền Thoại sau : Khi Ngưỡng Sơn ( 804-899) hỏi về Phật tánh. Thiền Sư Hồng Ân giảng như vầy: “Như ngôi nhà có sáu cửa nhốt khỉ đột. Ở ngoài có người hô to “khọt khọt”, khỉ đáp lại “khọt khọt”, cứ thế sáu cửa cùng hô cùng ứng. Ngưỡng Sơn hỏi lại: “Ví như lúc ấy khỉ ngủ th́ sao?". Hồng Ân bước xuống một tay nắm Ngưỡng Sơn, vừa múa vừa nói: “Khỉ ơi khỉ ơi , ta với ngươi cùng đối mặt nhau đây”. Bùi Giáng thay khỉ bằng đười ươi, tạo ấn tượng mạnh hơn v́ đười ươi hay cười. Đó cũng là h́nh ảnh nghệ thuật Bùi Giáng tự vẽ chân dung cuả chính ḿnh

 

Đoạn thơ  trên biểu hiện  tâm hồn , tính cách , kiều nói năng rất  Thiền cuả Bùi Giáng . Bùi Giáng nhận ra Phật Tánh trong h́nh hài đười ươi cuả người , cuả tôi. “ người cũng là tôi , tôi cũng là người , ấy rằng tinh thể đười ươi “ . Vũ trụ,  thời gian là nhất thể, tự tại, không sinh diệt: “ một cũng là ba , là hai , là một ; mai , mốt cũng là hôm nay “. Sự giác ngộ như thế là bước giác ngộ thứ nhất để dẫn đấn đại ngộ . Bùi Giáng không nh́n tha nhân như người khác mà nh́n  tha nhân trong cùng một bản thể Phật tính , không nh́n tha nhân như người cuả thế giới khác , vũ trụ khác, mà nh́n tha nhân trong hiện hữu thường hằng, quá khứ- hiện tại - tương lai - không gian - thời gian là một .Trong một tương quan như thế, người đọc thấy Bùi Giáng an nhiên ngay trong cuộc sống thực tại

 

Cái hay cuả đoạn thơ ấy là kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng. Ngôn ngữ như bông đuà. Nói chuyện tư tưởng thâm sâu cuả sự chứng ngộ mà  tếu táo chẳng đâu ra đâu, lẫn lộn lung tung. Thực ra Bùi Giáng cố ư xáo trộn ngôn ngữ, dùng cách nói ṿng ( kiểu ngôn ngữ cuả các Thiền sư ) ,  tạo ra sự xáo trộn trật tư logic cuả ngôn ngữ đời thường, xáo trộn không gian,  thời gian, đạt tới sự diễn tả tư tưởng.

 

Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.

 

Để hiểu câu thơ này, cần sắp xếp lại ngôn từ theo logic cuả ngôn ngữ đời thường . một-hai-ba (không gian) -mốt-mai-hôm nay (thời gian) , tất cả là một. Vạn pháp là một Phật tính . Phật tính hiển hiện trong vạn pháp. Tuy nhiên đoạn thơ không phải là tâm thế đốn ngộ cuả Bùi Giáng. Bùi Giáng chỉ mượn tư tưởng Thiền để thể hiện cá tính sáng tạo cuả ḿnh, một cá tính tài hoa. V́ thế  thơ Bùi Giáng là thơ cuả một nghệ sĩ tài hoa,  khác với những bài kệ / thơ Thiền cuả các Thiền sư.

 

5. Thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn (17)

 

Trần Ngọc Tuấn là một nhà thơ trẻ. Thật đáng ngạc nhiên v́ Tập Suối reo cuả anh là một tập thơ Thiền . Trong t́nh h́nh người trẻ làm thơ hiện nay , th́  sự chọn lựa ấy cuả Trần Ngọc Tuấn là sự chọn lưạ đầy khó khăn. Trần Ngọc Tuấn không phải là một Thiền sư, anh vẫn đang sống lăn lộn giưă đời,  v́ thế Suối Reo là thơ của đời ánh lên sắc Thiền , thơ của một con người c̣n  đang “ qua dốc sương mù

 

Gánh củi qua dốc sương mù

Mồ hôi giọt gịot gió ù ù bay

Ngh́n tia nắng dệt trang ngày

Bước chân hoan hỉ , đêm này lửa reo

 

Sống  là gánh lấy bao nhiêu nỗi vất vả như người gánh củi . Ngày đêm  phải vượt qua con  dốc  sương mù và đương đầu với gió ù ù bay . Nếu nh́n nhận cuộc đời như thế , tác giả  sẽ chuyển bài thơ thành tâm t́nh thở than.  Thế nhưng  Qua Dốc Sương Mù lại  rực rỡ ánh sáng của sự thăng hoa . Đó không phải là thứ ánh sáng thiên nhiên của ngh́n tia nắng , hay ánh sáng của đêm lửa reo  , mà là ánh hào quang của Phật . Nỗi vất vả , thống khổ trở thành con đường hạnh ngộ. Qua dốc sương mù là vượt qua vô minh , vượt qua khổ ( Diệu đế I ). Người gánh củi kia tỏa ánh hào quang của Phật trong

bước chân hoan hỷ ‘ . Bài thơ không  miêu tả hiện thực gánh củi mà tả khỏanh khắc chứng ngộ đầy hỷ hoan trong ánh sáng toả ra từ Tâm Bát Nhă. Hiện thực đuợc  nh́n bằng  Trí Huệ Bát Nhă 

( Prajna ) . Đó là ư nghiă tư tưởng cuả bài thơ.

 

Người ta có thể hiểu bài thơ khác đi qua cách đọc  phản ánh hiện thực . Bài thơ là cái nh́n lạc quan , là tấm ḷng nhân hậu Trần Ngọc Tuấn đối với người gánh củi. Bài thơ cũng là một bức tranh  tả cảnh gánh củi vất vả,  trên nền thiên nhiên rạng rỡ , trong ánh sáng ấm áp cuả bếp lửa gia đ́nh do củi mang laị , từ đó nói đến một  tiến tŕnh tư tưởng tích cực,  suy từ sự  vất vả đến hạnh phúc mà người gánh củi đạt được.

 

Ở bài thơ này, Trần Ngọc Tuấn chưa đạt đến các nói cuả Thiền sư. Ngôn ngữ thơ không phải là kiểu ngôn ngữ vô ngôn cuả Thiền , v́ thế nghiă tư tưởng và nghiă nghệ thuật có thể chồng khít lên nhau, không tinh ư  khó có thể nhận ra ư nghiă Thiền cuả bài thơ. Dầu vậy bài thơ cũng có được những tứ thơ hay và ngôn ngữ nghệ thuật tinh ṛng . Sự kết hợp Tứ Tuyệt với Lục bát tạo nên màu sắc thẩm mỹ riêng, vưà có cái cô đọng tư tưởng cuả Tứ Tuyệt, vưà có cái mền mại thanh thoát cuả Lục Bát, vưà có sự sang trọng cuả tư tưởng vưà có sự dung dị dân dă cuả hồn thơ.

 

6.Thơ Thiền Phạm Thiên Thư

 

Tôi chưa có dịp nói đến những kinh Phật được Phạm Thiên thư phổ thơ như  Qua Suối Mây Hồng - Kinh Ngọc ( thi hóa Kinh Kim Cương), Hội Hoa Đàm - Kinh Hiền ( thi hóa Kinh Hiền Ngu, 12 ngàn câu lục bát), Suối Nguồn Vi Diệu - Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú)

Chỉ xin thử đọc một đoạn trong bài Đưa Em T́m Động Hoa Vàng cuả Phạm Thiên Thư (PTT) xem thơ Thiền cuả Phạm Thiên Thư có thi vị thế nào . Đặc sắc thơ PTT   thơ t́nh có vị Thiền . Điều này lạ. Bởi v́ t́nh là khổ luỵ. Thiền là cắt đứt nghiệp chướng. PTT đă tạo nên sự kết hợp này thế nào ? xin đọc

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lư một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Th́ thôi tóc ấy phù vân
Th́ thôi lệ ấy c̣n ngần dáng sương
Th́ thôi mù phố xe đường
Thôi th́ thôi nhé đoạn trường thế thôi

 

Nội dung đoạn thơ là câu chuyện t́nh yêu, là những lời  yêu PTT gửi đến người t́nh, nhưng những  ư tứ Thiền lại hiển lộ rất rơ trong cái nh́n , trong ngôn ngữ , trong tâm thức nhà thơ : phù vân , sương , mù , đoạn trường . Trong khổ thơ này PTT không dụng ư thể hiện tư tưởng Thiền , nhà thơ chỉ mượn từ ngữ, ư tứ để diễn tả  tâm trạng yêu. PTT  nh́n người yêu mà suy gẫm,  lúc nằm , lúc về , h́nh hài ấy, dáng vẻ ấy : môi thanh xuân đào lư đấy , tay đơm muà hè, gót dời hoa xuân. Nhưng mà hiện hữu ấy , tóc ấy chỉ là phù vân;  lệ ấy , dáng ấy mong manh như sương. Em tuy đẹp , tuy dào dạt đào lư, dào dạt yêu thương trong mắt lệ, em giưă cội thu xanh , giưă vàng phố mây trời,  nhưng chỉ là vô thường , chỉ là khổ ( đoạn trường ) chỉ là vô minh( mù ) , là  hư huyễn( phù vân ) . Trái tim nhà thơ thốt lên nỗi buồn thương không sao ngăn được. Nhà thơ kêu lên nhiều lần “ th́ thôi “, chấp nhận thực tại, để rồi buộc phải nói lời ly tan  thôi th́ thôi nhé” .Bản chất cuả hiện hữu là thế , và t́nh yêu, dù thăng hoa đẹp đẽ thế nào cũng không thoát ra được. Phạm Thiên Thư- người t́nh,  chỉ c̣n mong

 

Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

 

Thiền vị đem đến những giá trị thẩm mỹ ǵ cho thơ PTT ?

Thơ PTT sang trọng, thanh cao là nhờ ở Thiền Vị. PTT cũng viết về đoạn trường, chia li, cũng viết về mắt , về môi , về dáng đứng, dáng nằm cuả người con gái, nhưng tuyệt nhiên không nhuốm mùi nhục thể, tuyệt nhiên không rực lưả dục vọng. Cũng là nước mắt, cũng là ly tan, nhưng không có hờn ghen oán trách t́nh phụ, không bi luỵ tang thương. Thiền vị làm thăng hoa thơ t́nh PTT

 

Thật khác xa với cái nh́n tang thương bi đát cuả Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc

 

“…Ngọn tâm hoả đốt dầu nét liễu

Giọt hồng băng thấm ráo làn son…

…Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ, bèo dầu bến mê…

…Phong trần cả đến sơn khê

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này…”


Sự khác biệt ấy là ở chỗ PTT đă “ ngộ” được chân lư Thiền, trong khi Nguyễn Gia Thiều c̣n đang ngụp lặn ở bến mê.

Thật thú vị nếu tiếp tục đi sâu hơn nưă trong việc xem xét ảnh hưởng cuả Thiền trong thơ ca. Chẳng hạn Nguyễn Du trong bài Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài cho biết ông đă từng đọc hàng ngàn biến kinh Kim Cang .

 

Ngă độc Kim Cang thiên biến linh
Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ
Tài tri vô tự thị chân kinh.”

           ( Ta đọc hơn ngàn biến Kinh Kim Cang, những ư nghĩa sâu kín trong đó phần nhiều ta không rơ. Đến hôm nay tới đài chia kinh này mới biết rằng Vô tự chính là Chân kinh.)

 

Tuy nhiên điều ấy nằm ngoài phạm vi cuả bài viết này : Một cách tiếp cận thơ Thiền .

 

Quả là nếu tiếp cận đúng hướng thơ Thiền , người đọc có thể thưởng thức được những giá trị, những khoái cảm thẩm mỹ đặc biệt mà thơ Thiền đem lại. Nh́n trong quá tŕnh phát triển, những bà Kệ thuần tính cách nghi lễ, khi được diễn đạt bằng ngôn ngữ h́nh tượng biểu cảm, đă chuyển hoá thành  thơ .Thơ Thiền cuả các Thiền sư có sự chuyển hoá ấy. Và khi Thiền thâm nhập  được vào trái tim nhà thơ thế tục,  Thiền vị tạo nên cái đẹp mới lạ trong những áng thơ,  có khi đọc không hiểu,  song vẫn có thể cảm nhận được qua h́nh tượng tư tưởng-thẩm mỹ như thơ  Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư. Con đường phát triển ấy c̣n nhiều hưá hẹn cho thơ ca Việt Nam.

 

                                                                                                                        Tháng 10 / 2007

___________________________________________________________________________ 

 

(1) Thiền Uyển Tập Anh

(2), (12), (14)101 Giai Thoaïi Thieàn” – Thomas Cleary Nxb Tp Hồ Chí minh 2001. Tr.144

(3) “Đức Phật Đă Dạy Những Ǵ” - Ḥa thượng WALPOLA RAHULA - Thích Nữ Trí Hải dịch -1998

(4), Bài thuyết pháp thứ 2 cuả Đức Phật Anattalakkhana Sutta - Kinh Vô Ngă Tướng  
(5) Thập nhị nhân duyên :  Suốt thời gian bảy ngày đầu tiên sau khi thành đạo, Đức Phật ngồi không lay động

     dưới tàng cây Bồ Đề . Trong đêm cuối tuần, Ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên

     (Paticca Samuppada) , đó là Vô minh , nghiệp ,  Thức ,Danh sắc , Lục nhập , X