LÁ KHÚC SÔNG HỒNG

Đào Quốc Bảo



  Một buổi chiều vào thượng tuần tháng Tư, Quân tháp tùng vợ chồng Khoa xuống nhà Huyền để “ Trước ngắm hoa quỳnh, sau thưởng thức món bánh khúc “, đúng như nguyên văn điện mời cách đây hai ngày của nữ chủ nhân. Hỏi tò mò:” Khách khứa có những ai?” Đáp nhát gừng, lại như có vẻ gắt: “ Quen hết mà! “ Ôi! Đối thoại gì mà khô khan, cộc lốc, ngắn gọn hơn cả văn công điện nữa! Thôi, cũng chẳng sao! Một cuộc họp bạn tuy là loại “mini” nhưng lại có những hai tiết mục, mà đối với Quân, xem ra đều hấp dẫn và thú vị cả.

Như đã được xắp đặt một cách bất di bất dịch của trời đất, cả một mùa Xuân cộng thêm những ngày đầu lập Hạ ở những nước Bắc Âu, vẫn còn lay lứt nhũng ngày lạnh tê cóng. Thế nhưng năm nay, vào thời điểm này, người và vật đã cảm thấy ấm áp, những tia nắng hồng đã có thể làm tan đi cái buốt giá của những ngày Đông u ám, chĩu nặng hồn người. Như được “hồi xuân”, những khóm quỳnh trên bậu cửa đua nhau vươn cành, kết nụ, đơm hoa.

Bạn bè trong nhóm Quân, gia đình nào mà chẳng có mộtù khóm ngọc dao, một bụi ngọc quỳnh và dăm bẩy giò lan để “di dưỡng tính tình” như Quân và các bạn thường bông đùa với nhau. Phần đông bạn Huyền cho rằng chủ nhân tìm cớ để họp bạn cho vui. Riêng Quân, chàng nghĩ Huyền bình sinh chỉ mê hoa quỳnh, vậy chủ nhà cho triệu tập các bạn là phải có nguyên do và dĩ nhiên có liên quan mật thiết đến quỳnh...

Đến nơi, vừa bước vào phòng khách, bạn bè như đã đông đủ cả, vợ chồng Khoa và Quân chẳng đợi mời, vừa nhắc ghế ngồi tiếp vòng với các bạn, vừa làm thủ tục “chào kính “...Chậu quỳnh bằng men xứ trong xanh mầu cẩm thạch được đặt trịnh trọng trên chiếc đôn cổ mầu gỗ gụ kê sát lò sưởi, gần cửa sổ phòng khách trông ra vườn. những nhánh quỳnh mạnh khỏe xanh ngắt mầu lục vươn từ lòng chậu lên cao, vẽ vòng, rủ xuống xung quanh chiếc đôn, chia nhau địu lấy cả mười mấy hai chục nụ quỳnh trắng ngà nũng nịu, hầu hết đang hàm tiếu, ngoại trừ hai bông gần gốc đang chúm chím khai hoa. Quân nhận xét giống quỳnh này không phải gốc Châu Á : Lá thon dài, cuống và những cánh hoa thay cho đài hoa đều mang sắc xanh , dầy và mập mạp, chứ không mảnh mai, đỏ tía như giống ngọc quỳnh ở Việt Nam, hương thơm không gay gắt mà thoảng ngát dìu dịu làm cho khách thưởng hoa có cảm tưởng như đang ở trong vườn. Quân đoán thật không sai: Đây là một giống quỳnh lai tạo của một ông TRẦN nào đó ở San Diego đã đăng ký Hội Hoa Quỳnh Hoa Kỳ với tên Epyphyllum Saigon, viết tắt là E. SAIGON , mà giới thưởng hoa ở hải ngoại thường phát âm nôm na là “ i-xè-gòn “.

“Hoa khai quý vị ơi !” Chẳng cần phải báo động, phòng khách bây giờ đầy ắp hương quỳnh. Mầu trắng ngà đã chiếm dần diện tích xanh của bụi hoa nở về đêm : Chủ nhân thật khéo vun trồng, mười mấy bông cùng chầm chậm khoe sắc khoe hương làm mê hoặc lòng người không ít. Bạn hữu thi nhau thì thào bình phẩm, khen hoa,khen cả người ươm hoa. Nữ chủ nhân mang tên Huyền rạng rỡ đón nhận, không mảy may chối bỏ...

Đấy, cách thưởng hoa của Huyền và các bạn chỉ ở mức độ đơn giản, mộc mạc thế thôi. Nếu đem so với thú thưởng hoa của các cụ ta ngày xưa thì họ chỉ đưọc xếp vào hàng con cháu hay gia nhân, tiểu đồng đứng hầu rượu hoặc điếu đóm cho các cụ mà thôi. Này nhé, một cụ Án hồi hưu, tiêu dao ngày tháng bằng túi thơ bầu rượu, bằng thú nuôi trồng phong lan...Một khóm Thanh Ngọc vừa trổ hai giò hoa! Cụ Án hài lòng tự nhủ: Sắp được thưởng hoa rồi đây ! Nhưng cụ đâu có ngắm hoa một mình, bởi vì cụ luôn trân trọng tình bằng hữu: nào bạn đồng song, bạn đồng liêu và nhất là những người bạn vong niên cùng chí hướng từ thuở xa xăm nào đó đã cùng nhau chia sẻ cay đắng, thăng trầm. Cho nên cụ phải sửa một bữa tiệc mệnh danh là Tiệc Thạch Lan Hương để đãi khách thưởng hoa chứ ! Từ khi có quyết định đó, cụ Án đã để nhiều thời gian hơn vào việc chăm sóc chậu lan này. Đêm đêm cụ thường ra sân nhìn lên vòm trời cao thẳm xem thiên văn, cụ dựa vào sự vận chuyển của tinh tú để tiên đoán thời tiết, tính áng chừng ngày khai hoa để rồi ấn định ngày mở tiệc thưởng lan.

Gọi là “tiệc”nhưng thực đơn chỉ gồm một vò rượu tăm nhắm với kẹo mạch – nha bọc đá cuội ướp hương lan, vâng, chỉ thanh đạm có thế ! Nhắm rượu, thưởng hoa,đưa cay bằng viên kẹo đá cuội thơm mùi lan rừng, rồi ngẫu hứng, thưởng tặng nhau những câu thơ câu phú, hoặc dài hơn thì có thể là bài hát nói , tình ý trong thơ nhiều khi còn toát ra những hoài bão, những u ẩn chất chứa trong lòng...Phong cách thưởng hoa của các cụ thật cao khiết và thanh nhã dường nào !

-‘’ Mời anh chị sơi bánh khúc !”Nữ chủ nhân vừa mời vừa bưng khay bánh đến từng người một, Quân cũng đỡ lấy một phần. .cái đĩa nhỏ nhắn ôm lọt thỏm bốn chiếc bánh tròn tròn, xinh xinh, nóng bốc khói, mùi nếp, mùi đậu xanh, mùi mỡ hạt lựu quyện lấy mùi tiêu, tỏa lên thơm phức, làm át đi cái hương thơm ngát dịu của hoa quỳnh. Quân nghĩ thầm trong bụng : Thưởng hoa, nhất là loài hoa có hương thơm, mà “ngả mặn” thì còn gì là thanh tao, thoát tục. Mình thua các cụ là phải, không những chỉ thua, mà còn thua đậm nữa kia ! Sẵn bụng kiến bò, Quân nhón chiếc bánh đưa lên miệng cắn một miếng, vừa nhai chậm dãi vừa ngẫm nghĩ, vừa để mắt chăm chú quan sát miếng bánh dở dang, quên hết cả hoa quỳnh, hoa lan. Lớp bột áo bọc nhân đậu trắng trong, không xanh phơn phớt mầu rêu như bánh khúc ở Việt Nam và nhất là ở miền Bắc nước ta vì đào đâu ra cây rau khúc, ngay ở Nam Việt cũng đã là khan hiếm, huống chi ở Hòa Lan! Đành rằng thế, nhưng Quân muốn có một ảo tưởng là mình đang thưởng thức món bánh làm bằng rau khúc của mẹ Quân vào hồi chạy loạn, cho nên chàng “tỏm” luôn nửa chiếc bánh còn lại trên tay : chàng đang thưởng thức “hàm thụ”hương thơm hăng hắc dìu dịu của lá bánh khúc thật sự, chẳng khác nào như kẻ ngoại tình bằng tư tưởng. Và chính cái mùi dìu dịu hăng hắc tưởng tượng này đã đưa Quân trở về dĩ vãng, những kỷ niệm ùa về như giòng nước lũ, chàng nhớ đến cây rau khúc trong những ngày tản cư .

Năm 1945, tình hình chiến sự trở nên căng thẳng và khốc liệt hơn, anh chị em Quân theo cha mẹ rời bỏ thành phố Hải Phòng, tản cư lên vùng Sơn Tây, nơi có đồn điền của ông cậu, em ruột mẹ Quân. Trại nông nghiệp này tọa lạc vào một vị trí rất đặc biệt : Một nửa dinh cơ trồng lúa và ngũ cốc, nằm bên kia sông Hồng, địa danh là làng Bằng Lũng, sát chân núi BaVì . Nửa còn lại nằm bên này sông Hồng, địa danh là Hệ Thôn, trồng ngô khoai và nhiều nhất là mía dùng để hộn mật, làm đường cát .

Quân còn nhớ vào những ngày giáp năm của tháng chạp, công việc đồng áng đã xong, ông cậu đã trả lương và phát quàTếtụ cho thợ cầy, thợ mải để họ về ăn Tết với gia đình, chỉ trừ khu sản xuất mật đường là còn hoạt động...Một sáng rảnh rang, mẹ sai mấy chị em Quân ra bờ sông Cái ( một tên khác của sông Hồng Hà) để hái rau khúc về làm bánh, dĩ nhiên hai anh em trai Quân và cả cô Út cũng đòi theo đuôi. Trời vừa hừng đông, mấy chị em cắp rổ nhắm theo đường tắt , băng qua mấy lô ruộng mía lần ra mé sông cách đồn điền chừng ba bốn trăm thước. Mặt trời còn khuất sau rặng núi lam nhưng cũng đủ khoác lên cả một vùng trời mây nước một ánh sáng hồng trong vắt, chan hòa sức sống. Chị em Quân vừa tung tăng bước theo triền dốc con đê xuống bãi sông vừa hít thở không khí trong lành của tiết Xuân, thoang thoảng mùi nước sông, mùi ngai ngái của rơm rạ, mùi ngan ngát của hương cau hương bưởi. Vào đúng mùa khô, nước cạn, ít phù sa nên con nước sông Hồng hiền hòa, bãi sông trở nên rộng mênh mông, lớp cát đen được phủ lên lớp phù sa mầu hồng mịn nhưng nứt nẻ vì nắng hanh, ngoài cỏ gà, cỏ may mọc lưa thưa rải rác nhưng Quân chẳng biết cây nào có thể gọi được là cây rau khúc, vậy mà chàng đã thấy các chị lom khom, thoăn thoắt hái rau tự bao giờ. Quân chạy lại chỗ các chị, nhìn vào rổ rau : Lần đầu tiên Quân thấy cây rau khúc.

Đó là một cây rau nhỏ li ti, cả cây chỉ dài và lớn bằng mấy cái tăm xoè ra, lá có hình dáng như lá cải cúc, mầu xanh mốc bàng bạc như lá mimosa Đà Lạt. Sau khi nhận diện kỹ càng cây rau khúc, Quân cũng lanh chanh tìm hái rau khúc. Trên bãi sông nứt nẻ phù sa, những cây rau nhú lên rải rác, trên lá bạc còn đọng sương mai, được phản chiếu ánh dương, long lanh như những giọt thủy tinh hay như những hạt hồng ngọc thì đúng hơn . Quân mê mải chọn những cây có hoa vàng ngắt đầy hai tay rồi hớn hở ném tọt vào rổ của các chị. Chị Cả chợt nhìn thấy, kêu giẫy nẩy: “Sao em lại hái những cây già như thế? Hái những lá bánh tẻ như chị đây này!” Quân tiu nghỉu như mèo cắt tai, ngoan ngoãn làm theo lời chị...

Cả tiếng đồng hồ sau, mấy chị em mới hái được gần đầy một rổ. Mặt trời lên cao khoảng con sào, nhìn rổ rau áng chừng đã đủ, chị Cả giục các em về cho kịp mẹ làm bánh...

Đến trưa, mẹ gọi các con vào chuẩn bị bưng bánh lên nhà trên mời ông bà ngoại xơi bánh khúc. Mẹ Quân tự tay bưng chõ bánh lên nhà ngang và đặt trên trõng tre. mấy chị em Quân quây quần đông đủ bên mẹ, dĩ nhiên có cảù chõ bánh ở trong . Vừa mở nắp vung, khói bốc lên nghi ngút, hương thơm của áo bánh bằng gạo nếp hoa vàng đã ngạt ngào hấp dẫn, lại có cái mùi thơm thơm, hăng hắc, nhè nhẹ của rau khúc đã được nhào nặn với bột áo bánh khiến Quân thèm đến chảy nước dãi. Mẹ đơm bánh khúc vào đĩa và bảo các con bưng ra trường kỷ mời ông bà, cậu mợ, cha Quân và các thành viên trong gia đình có vai vế cao, xong xuôi mới đến bọn lau nhau .

Mỗi chiếc bánh khúc trông đẹp như một bông hoa: Bánh mầu rêu xanh lấp ló sau chiếc áo xôi nếp trắng trong, cắn một miếng thì như cả hương đồng, cỏ nội của quê hương gói vào trong đó. Nhưng nhân bánh khúc lại còn ngon hơn: Đó là một viên đậu xanh vàng óng, thấp thoáng ẩn hiện một vài thỏi mỡ hạt lựu vuông vắn, điểm chấm phá chút hồ tiêu khiến cho chiếc bánh có đủ mùi vị của những vật phẩm thượng đẳng nơi đồng quê: đậu xanh và nếp cái hoa vàng, một giống nếp mà ngày xưa ở đất Bắc dùng để tiến vua. Nếp cái hoa vàng là loại lúa quý hiếm và có hai loại: loại hạt to và loại hạt nhỏ, loại thứ nhì thường thơm hơn. Giống gạo đặc biệt này không thể lẫn với các giống nếp khác vì nó chỉ trồng được vào vụ mùa, khoảng từ tháng năm cho đến tháng mười Âm lịch, ngay ở đất Bắc cũng chỉ có vài nơi thích hợp để trồng như Bắc Ninh, Phủ Lý. Ở một vài nơi khác cũng có thể trồng được nhưng hương nếp không thơm bằng, hạt xôi lại thường hay bị sượng. Miền Bắc có bốn mùa rõ rệt. Khoảng tháng chín Âm lịch, nếp cái hoa vàng trổ đòng, phấn hoa vàng ( chứ không trắng như các loại lúa khác ) làm cho hương nếp có vị thơm ngọt. Khi bông lúa ngả mầu, nhà nông phải rút nước chân ruộng cho khô. Bao giờ lúa uốn lưỡi câu, chín rũ mới gặt hái. Khi phơi phong cũng phải chọn sân gạch, nắng hanh rồi mới đổ vào chum và đậy điệm cho kín. Làm theo đúng cung cách trên thì sẽ giữ được hương thơm.

Ngày hồi cư, trở về thành thị, những kỷ niệm đi hái rau khúc ở ngoài hậu phương trong những ngày tản cư vẫn làm cho Quân xúc động , luyến tiếc không nguôi. Đêm đêm nghe tiếng rao của bà lão bán bánh khúc, Quân thường đòi mẹ mua cho mấy chị em ăn. Bánh khúc Hải Phòng cũng ngon nhưng vẫn không bằng bánh khúc sông Hồng chỉ vì thiếu nếp cái hoa vàng. Nhưng để bù lại, Quân được thưởng thức bánh khúc trong không khí đoàn tụ gia đình một cách trọn vẹn...

Cho đến ngày di cư vào Nam, món quà dân dã nhưng thật quê hương này không còn chỗ đứng trong danh sách những món ăn khoái khẩu của Quân nữa, bởi vì đào đâu ra rau khúc và nếp cái hoa vàng ! Từ ngày có quán Bánh Cuốn Thanh Trì khai trương ở đường Trần Khát Chân vùng Đa Kao Tân Định, Quân lại được ăn bánh khúc, tuy lớp áo nếp không được dẻo và thơm như nếp cái hoa vàng nhưng cũng đủ ngon điên cuồng vì thương vì nhớ những ngày chạy loạn thiếu thốn. Mỗi lần về phép, mấy anh em Quân lại kéo nhau đến Trần Khát Trân để điểm danh hết các món Bắc kỳ độc đáo như bánh cuốn Thanh Trì, một loại bánh cuốn không có nhân chấm nước mắm chanh ớt cà cuống ăn kèm với giò chả, bún thang với mắm tôm cà cuống và bánh khúc, bánh tôm vv...Thời gian sau, khách hàng ngày một đông, bà chủ cho nới rộng quán, đặt thêm bàn, kê thêm ghế và thêm vào thực đơn món bún chả, nếm thử cũng đúng sách vở, ngon nhức nhối, nhưng từ đó Quân không gọi món bánh khúc Sông Hồng nữa bởi vì mùi chả nướng thơm, có khi thơm đến “ khét lẹt” lấn át đi cái thơm thơm, hăng hắc, dìu dịu của bánh khúc, cái nét thanh thanh của món hương đồng cỏ nội nơi đất Bắc.

Bẩy ngày phép qua mau, Quân phải trở về đơn vị để lại vùi đầu vào bản đồ với lệnh hành quân, với văn thư công điện v v....rồi thỉnh thoảng theo bộ chỉ huy nhẹ đi hành quân cấp Liên đoàn cộng hoặc những cuộc hành quân liên minh có tính cách quy mô hơn. Tùy theo tình hình và địa thế , lắm lúc cũng phải trèo đèo lội suối, băng qua những cánh rừng, những nương chè, những đồi cà phê bát ngát . Nhưng tuyệt nhiên Quân không hề thấy bóng dáng cây rau khúc, phải chăng vì phong thổ cao nguyên? Những lúc dừng quân nơi lưng đèo, bên thác nước cheo leo hùng vĩ, nước đổ bụi mờ, nhác thấy sau màn sương những chùm hoa mimosa lốm đốm vàng nũng nịu lả ngọn vào đám lá tròn xinh xắn mầu bạc, tôi lại chạnh nhớ tới mầu sắc mốc xanh còn đọng sương mai của cây rau khúc.

Hoa mimosa ở vùng cao nguyên Lâm Viên ( lá nhỏ, tròn, xanh bạc như nõn lá xu hào, thuộc họ Acacia có tên khoa học là Acacia Cultriformis xuất xứ từ Úc, vùng New South Wales, khác với giống Acacia Dealbata lá như lá me, lá phượng vĩ, từ miền Nam nước Pháp nhập cảng hoa cắt cành vào Hòa Lan ) là một biểu tượng của tình yêu, một trong những chất xúc tác đối với thi nhân và những kẻ yêu nhau. Một chùm hoa vàng lá bạc trao nhau chỉ vào lúc “tình yêu từ độ lên cao”. Quân tự nghĩ, mình chẳng là gì nhưng cũng biết rung động trước một cảnh thiên nhiên hùng vĩ, biết cảm thông khi thưởng thức một khúc nhạc ghi lại nỗi nhớ nhà của người lữ thứ, biết bùi ngùi khi đọc một bài thơ nói lên sự dang dở của một mối tình trắc trở tuyệt vọng. Song, nhắc đến hoa mimosa, Quân liên tưởng ngay đến khí hậu lành lạnh trên cao nguyên, đến cảnh thông reo vi vu, thác đổ ầm ầm, chàng trạnh lòng nghĩ đến một cuộc tình đã đi qua trong đời. Nhưng rõ nét hơn nữa, mỗi khi nhìn thấy mầu xanh bàng bạc của chùm lá mimosa Đà Lạt, Quân lại mường tượng ra cây rau khúc bên bờ sông Hồng. Thế nào mà chẳng có người cho Quân là “một con người bệnh hoạn” hay “một kẻ phàm phu”. Cũng chẳng hề hấn gì, vì đối với chàng, cây rau khúc vẫn là loài cây ma túy, nó như một “bộ nhớ” của máy điện toán giữ lại trong tâm khảm Quân những tình cảm sâu đậm nhất về gia đình, về quê hương...

Cho đến khi xẩy ra biến cố 75, Quân và những người cùng chung khổ nạn phải chuyển trại từ Long Giao ( Long Khánh ) ra Yên Bái ( Hoàng Liên Sơn ). Và tại địa danh này, chàng lại được cái “diễm phúc” nhìn lại tận mắt cây rau khúc “ma túy” khi băng qua cánh đồng chiêm, lên núi đốn củi, chặt vầu. Quân dừng bước trên bờ đầm chiêm và ngồi xệp xuống lối mòn cỏ úa để chiêm ngưỡng những cây rau có lá xanh mầu bạc nhỏ li ti mọc lưa thưa nổi bật trong đám cỏ xanh, Quân lại nhớ đến cây rau khúc sông Hồng, nhớ đến dáng cương nghị và nét bao dung của cha, vẻ phúc hậu hiền từ của mẹ và những kỷ niệm thời thơ ấu của mấy chị em, chàng thấy quặn thắt trong lòng. Không suy nghĩ, Quân quay sang nói với bạn đồng hành : “Mình hái về làm bánh nhé ?”Bạn hỏi vặn:”Vật liệu đâu mà cậu làm?” “Ừ nhỉ, hay...ta hái một mớ về luộc ăn cho đỡ nhớ bánh khúc ?” Như cảm thông mối liên hệ mật thiết giữa Quân và cây rau, người bạn đồng cảnh trả lời như vỗ về an ủi :” Mình cải thiện linh tinh ư ? Thôi, còn nhiều dịp đi qua cánh đồng chiêm, cậu tha hồ mà chiêm ngưỡng. Gớm, làm cứ như là người tình không bằng !” Quân đuối lý, đành phải để cho bạn kéo đi, nhưng Quân cũng cố nhoai người, với tay bứt mấy cọng rau khúc, vừa đi vừa vò nát trong tay để tận hưởng cái mùi thơm thơm, hăng hắc, dìu dịu của lá khúc...

“ Mời anh xơi bánh kẻo nguội!”Câu mời của nữ chủ nhân như một tiếng động mạnh làm cho Quân giật mình. Hơi sượng sùng, chàng nhón chiếc bánh nguội lạnh trên tay, nhấm nháp cho Huyền vui. Thật ra, Quân vẫn chưa ra khỏi vùng trời kỷ niệm : chàng chưa thể quên được hình dáng cây rau khúc bên bờ sông Hồng hoặc trên cánh đồng chiêm ở Yên Bái và nhất làụ những mẩu chuyện vui buồn bên những người thân thương nhất trong đời .

Đào Quốc Bảo



Copy right © 2002 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved