Chiếc
Bóng
Tơ
Vương
Vũ Thị Thiên Thư
Màu
nắng chiều nhạt nhòa in bóng xuống hàng dừa xanh mượt, con nước lớn, ngày
mười ba, êm đềm lặng lẽ vổ nhẹ nhàng hai bên bờ sông. Ngôi chùa nhỏ nằm ở
vàm sông, xây trong khuôn viên rộng rãi, cổng chùa đóng bằng cột gổ đơn
sơ, sân trước trồng đầy hoa kiểng, được chăm sóc cẩn thận, mặt tiền hướng
về phía con sông nhỏ, quen gọi rạch Bắc Vàng, bên góc vườn đầy hoa phía
nam sân chùa, pho tượng Đức Quan
Âm
bồ tát khuôn mặt hiền từ mẩu ái, tay cầm nhành dương liễu hướng về vàm
sông. Con sông Cái bé nước lớn từ nguồn cao đổ về hàng năm bên lỡ, bên
bồi. Người dân quê mùa mộc mạc, tin tưởng vào Đức Bồ Tát vạn năng, người
đến cầu cho mọi sự bình an, người đến cầu cho mùa màng suông sẽ, những
người sống trong vùng đồng bằng dọc theo sông Hậu còn gọi là sông Cái bé,
để phân biệt với sông Tiền là sông cái Lớn, người dân luôn chống chọi hàng
năm từng cơn nước lũ. Sông Hậu mang phù sa về tưới cả vùng đồng bằng, con
sông cái bình thường thật hiền hòa, êm ái, tháng lũ như điên cuồng, nước
từ nguồn xa đổ về cuốn trôi đi bao nhiêu cây nhỏ mọc hai bên bờ sông. Nước
đổ trong cơn giận dữ ào ạt như thác ngàn, bao nhiêu xuồng ghe, bao nhiêu
tay chèo chống, mỗi lần qua sông khó khăn như vượt thác.Những hàng nọc cây
đóng dọc theo bờ sông, những đám chà, những hàng đáy đóng bằng từng bó tre
tàu rỗng ruột, trải dài dọc theo hai bên bơ ø sông, chìm sâu dưới làn nước
lên cao, không còn không thấy đâu là cột tre đâu là ngọn, khi phải qua
sông rất nguy hiểm vì không trông thấy các chướng ngại vật,đâm thủng ghe
xuồng bị vướng vào.
Trụ trì ngôi chùa nhỏ là Sư bà, tuổi trung niên, người nhỏ nhắn, phong
thái bao giờ cũng an nhiên điềm đạm, tiếng nói nhẹ nhàng, phụ giúp công
việc chăm sóc còn có hai Sư cô, tuổi trẻ hơn, ngoài giờ công phu, các Sư
cô thường làm lụng liên tục, trồng trọt rau quả, chăm sóc hoa lá trong khu
vườn bao bọc quanh chùa. Khách thập phương đến thăm chùa và vào viếng Sư
bà hàng ngày, nhất là những ngày Rằm, mùng một, khói hương nghi ngút"
Người đàn bà cột xuồng vào gốc cây đừa nằm cạnh bờ sông, vói tay lấy cái
rổ tre đựng trái cây và bó nhang thơm, bà ta cẩn thận bước lên cây cầu
dừa, bấm chặt mấy ngón chân, nước lên cao mấp mé, thân cây đóng đầy rong
rêu trơn như thoa mỡ, sẫy một chân là rơi xuống nước ngay. Nhìn thấy cô
gái mặc áo trắng đang dứng dựa gốc cây, bà gật đầu chào cô gái, cô ta im
lặng nhìn ra xa, hình như cô đang đứng chờ ai bên cổng Chùa, bà ta vừa đi
vừa nghĩ thầm.
Cô nầy thật lạ, viếng chùa sao không vào lại đứng dưới bến sông ? Người
xanh xao như bóng ma, chẳng biết dân ở đâu mới tới sao mình chưa nghe nói
vậy mà"
Bà ta đi mấy bước, nhìn lại, thấy cô gái đã quay lưng đang đi lần về phía
pho tượng Quan Thế
Âm, dáng nhẹ nhàng lướt đi như sương khói. Bà chép
miệng, " cô nầy đi như bóng ma ". Bà cũng quay lại, đi về căn nhà khói,
phía hậu liêu, vào trong chạn, chọn mấy cái dĩa lớn nhỏ, chưng bày, sắp
xếp các thứ trái cây vào để lên chánh điện cúng Phật, thoáng thấy Sư cô
vừa bước vào, với tay lấy cái khăn lau đôi bàn tay mới rữa còn ướt, Sư cô
đang chuẩn bị thời cúng chiều, bà chấp tay
- Thưa Sư Cô, mốt ngày rằm, con mang các thứ trái cây đến cúng Phật
- Mô Phật, Bà đã dọn lên bàn thờ chưa? Có cần Sư cô giúp không ?
- Dạ chỉ còn bên nhà vong nữa là xong rồi.
- Vậy bà cứ thong thả mang sang bên ấy, đã đến giờ cúng chiều, Sư cô
vào mặc áo để lên Chánh Điện lễ đây.
Bà ta lui cui đặt các thứ trái cây, hoa quả lên bàn, bưng một dĩa trái cây
vào nhà vong, nơi thờ phượng những người chết không ai hương khói, hay
những người chết còn trẻ, thân nhân mang bài vị vào gởi trong chùa, tin
tưởng rằng hồn ma có linh thiêng sẽ theo chuông mõ tu hành không lang
thang dật dờ, vấn vương, quyến luyến về quấy phá gia đình. Trên bàn thờ
lón đặt nhiều bài vị ghi rõ họ tên, ngày tháng sinh tử, và còn có cả hình
ảnh của người chết. Bà đốt một nắm nhang, cắm vào lư hương, thoáng nhìn
qua chợt đôi mắt như dán chặt vào tấm ảnh, đúng rồi, khuôn mặt nầy, ánh
mắt nầy, cái áo lụa trắng và cả xâu chuổi đeo trên cổ, không thể nào, hay
là người giống người, càng nhìn, bà càng quả quyết, cô gái dưới bến sông
không khác tí nào với người trong ảnh nầy, hay là song sinh ? Bất chợt bà
nhìn ra khu vườn, nơi pho tượng Đức Quan Thế Âm đứng nghiêm trang trong
nắng chiều nhà nhạt, một cơn lạnh bất ngờ chạy dọc theo sống lưng, bà quay
lưng đi như chạy về phía chánh điện. Trông thấy Sư cô trong chiếc áo
choàng nâu vừa bước lên, bà vội vàng hỏi
- Thưa Sư Cô, có thấy cô gái mặc áo trắng đến viếng chùa chiều nay
không?
- Không! Chiều nay chỉ có mình bà đến lễ chùa thôi.
- Sư cô thật không thấy ?
- Sao bà lại hỏi vậy? Sư cô không thấy ai cả, hay là khách nào đến
viếng chùa mà lại không vào lễ Phật chăng?
- Không lẽ, vì khi tôi vừa đến bến sông thì gặp một cô gái đang đứng
như chờ ai, tôi chào thì cô không nói năng gì, chỉ đi vào Chùa, về hướng
Quan Âm Các, tôi nhìn không thể lầm lẩn được, cô giống hệt như người
trong tấm ảnh thờ dưới nhà vong.
- Mô Phật, Bà đã gặp cô Phi rồi đó, hữu duyên, thôi bà vào lễ Phật đi,
chuyện dài lắm. Bà có rảnh rổi thì sau khi Sư Cô công phu xong sẽ kể
chuyện lại cho nghe.
- Nầy cho mụ hống hách nhé, từ nay cho bỏ tật hà hiếp người cô thế
Cô hai Phi nắm lấy tóc người đàn bà xoắn vào tay, tay kia vã vào mặt, chị
ta xoay người cố vùng vẫy nhưng tóc đã bị nắm chặt, càng vùng thì càng bị
xiết chặt, đau thì ít nhưng xấu hổ thì nhiều hơn. Ai lại bị con nhải con
làm nhục giữa chợ thế nầy. Mấy chị đàn bà cùng đi chung vội chạy lại định
gỡ tay cô Phi ra, không ngờ cô tư Phiến thấy có người dám can thiệp, bèn
nhảy vào vòng chiến, trên tay cầm cây dù cán cong ,cô máng cào cổ và lôi
người đàn bà kia lại, thuận tay cô tặng cho hai tát nỗ đom đóm rồi mới
buông chị ta ra
- Khôn hồn thì chạy đi, đừng để bà nổi cơn cho thêm mấy cái cán dù nữa
bây giờ
Mấy người đàn bà bán hàng trên sạp dọc theo khu chợ cũng vây quanh lại
- Cô Tư, đánh cho nó bỏ tật đi.
Quang gánh hổn độn, bạn hàng vốn đã không ưa mấy cái mặt thường ngày hống
hách cuả bọn me Tây, được dịp cũng nhào vô ăn ké. Cô Tư Phiến như nử tướng
ra quân đứng chống tay thị uy, mấy người đàn bà kia nhìn thấy tình huống,
biết không thể nấn ná lại, sẽ bị ăn đòn hội chợ nên tiu nghĩu dắt nhau về
khu gia binh của đồn lính nằm bên kia sông.Trước khi đi còn không quên
buông lời hăm doạ
- Tuị bây chỉ giỏi huà nhau, bà về gọi ông đội đến còng đầu cả lủ cho
xem.
Cô hai Phi vuốt lại mái tóc, nhặt cái rỗ tre nằm bẹp dí bên lề đường đưa
cho bà cụ rồi hỏi
- Bác có đau không? Thôi để tôi đưa bác về đằng Thầy Năm y tá khám bệnh
nhá
- Cảm ơn cô hai, Tui không sao, không có cô can thiệp chắc tôi bị nó
đánh no đòn
- Bọn nó chỉ biết hống hách bắt nạt người lớn tuổi thôi. Có giỏi sao
không dám làm gì mấy người bạn hàng gà đằng kia, chọc vào chúng chưởi cho
ôm đầu chạy không kịp.
- Tui đâu có gây hấn, chọc ghẹo gì chúng đâu, thằng Út câu được con cá
lóc to, tui mang ra chợ bán tin chắc là sẽ có giá, nhưng bà ta trả rẽ quá,
tôi năn nỉ xin thêm, bà không ưng nên tôi bán cho người khác, khi bà trở
lại thì con cá nầy đã lở bán rồi, nhà người ta có giỗ, vậy mà bà ta nhất
định chỉ muốn bắt lấy cho bằng được mới thôi.
- Tôi biết, bọn chúng nó từ lâu đỏng đảnh, ỷ lại vào thế lực bên đồn
lính muốn làm gì thì làm, ngang ngược còn hơn là ăn cướp.Thôi bác đi chợ
mua bán thì đi cho xong rồi về, cháu cũng về cửa hàng đây.
- Tôi thật là dội ơn cô Hai.
Anh Thương, đang đi lính bên đồn, và cũng là tá điền cũ của Ông Hương, từ
bên trại lính tất tả về phố chợ, bước thẳng vào cửa hàng bán tơ lụa của bà
Hương
- Thím ơi! Khổ tới, hai cô đi đánh nhau với bọn vợ lính bên đồn, chúng
nó lôi kéo nhau qua phục hận, còn xúi bà đội Tây nỉ non với chồng dẩn lính
qua còng dầu hai cô mang đi đóng trăn nữa đó.
- Thật là, hai cái đứa con gái ngỗ nghịch, ông Hương lại vắng nhà mới
khổ chứ. Hay là cháu vào lấy chiếc tam bản nhỏ bảo bạn chèo ngang sông
cái, qua bên Cù lao đón anh Bá tụi nó về cho tôi, đi nhanh lên không thì
khốn khổ với bọn chúng.
- Dạ, để cháu đi liền.
Bà Hương đóng hộp tiền, khóa lại, gọi cô Phương và cô con dâu trông coi
cửa hàng rồi bước ra cửa. Xóm chợ thường ngày nhộn nhịp, bỗng dưng thưa
thớt, mọi người lo gom góp vội vàng, mắt láo liên trông chừng, cả khu phố
chợ lo dọn dẹp hàng hóa vào trong nhà vội vã.Vừa đến chợ, bà thấy anh đội
lính Tây đang phùng mang trợn má, hai cô còn đang nhùn nhằn , họ cải nhau
vừa tiếng Tây tiếng Ta, có mấy người đàn bà ăn mặc diêm dúa đang đứng
chunh quanh chỉ chỏ.Bà nhỏ nhẹ nói với anh thông ngôn
- Cháu nó nhỏ dại, nhờ ông bảo với ông đội để tôi mang cháu về dạy dỗ,
ông nhà tôi đi vắng, mấy hôm nữa mới về, tôi sẽ trình với ông, còn thiệt
hại thì tôi sẽ đền bù lại .
Mấy người vợ lính Tây thấy có người đến can thiệp, vội ngắt lời :
- Bà nín đi, hai con nhỏ đó tội đàng trời, để ông đội còng đầu giam cho
bỏ thói, chọc vào chúng bà thì chúng bà cho biết tay.
Mấy bà quay lại líu lo, tiếng bồi nửa nạc nửa mỡ với ông đội Tây, bà Hương
vẩn nhũn nhặn
- Thôi cho tôi xin lỗi, con dại cái mang, tôi sẽ mang về dạy lại, các
bà có cần tiền thuốc thang thì tôi xin trả, coi như là đền bù chút đỉnh
vậy.
- Tôi đâu có cần cái thứ tiền bạc của bà, bảo chúng nó lạy tôi xin lỗi
thì tôi tha.
Cô Tư Phiến nghe bọn đàn bà hổn hào với Mẹ thì nổi cơn xông tới
- Má, đừng có nhiều lời với bọn nó, uổng nước miếng, để con vã cho nó
rớt hai hàm răng, xưng vẫu mõm thì hết lộn xộn.
- Hai đứa bây về nhà chờ đó, Ba tụi bây về sẽ xử tội, con cái nhà ai
lại đi đánh lộn ngoài đường. Đi ngay !
Hai cô nhìn nhau rồi lặng lẽ quay đi.Bà Hương lại cúi chào rồi định đi
theo hai cô, ông đội đưa cây can ra cản lại rồi ra dấu cho bà đi theo, bà
nhìn anh lính cùng đi với Ông hỏi lại
- Ông ấy muốn gì ?
- Ông muốn bà theo về đồn nói chuyện .
- Cũng được.
Bà Hương kéo cái khăn the lên che mái tóc, giương cây dù đen lên để che
nắng, thong thả đi theo sau ông đội về đồn lính bên kia sông .
Chợ Bằng tăng, nằm dọc theo con sông nhỏ, chảy vào sông Hậu giang. Trên
bến sông, tiếng mái dầm khua nhau, tiếng mạn xuồng va chạm, thanh âm cuả
buổi chợ sớm mai bắt đầu từ khi con nước lớn. Những chiếc xuồng cui, mũi
nhỏ nhọn nằm khề khà bên cạnh chiếc xuồng lườn độc mộc kiêu sa. Bạn hàng
cá tranh nhau mời chào, trả giá, kỳ kèo mua lại từ dân làng đi giăng câu,
đặt lọp, bao nhiêu lồng tôm cá, những con cá lớn bé nằm dẫy dụa trong
khoang chật hẹp cuả những chiếc xuồng bộng, xuồng ba lá, loại xuồng thông
dụng, rất nhẹ nhàng, đóng bằng cây tạp, rẽ tiền và tiện dụng, trên mặt
xuồng đóng sạp bằng nẹp tre, thân xuồng chia thành khoang, dục lỗ bên hông
như mắc lưới để làm chổ giữ cá và thoát nước.
Trên con đường dẩn vào xóm chợ, bạn hàng gà níu kéo những người dân quê
mang từng thúng gà con, từng lồng gà lớn ra chợ bán, kỳ kèo thêm bớt một
hai. Khu chợ nhỏ nhóm theo chiều dài của hai dãy nhà đối mặt, chia thành
từng khu riêng biệt, bày bán các mặt hàng khác nhau, như những thôn xóm
nhỏ trong làng, nằm cận kề tiếp nối, mỗi xóm làm một nghề, xóm bánh tằm,
xóm bún, xóm chằm lá" Khu bán cá, gần bên sông xếp một dọc hai hàng đối
mặt nhau, những con cá lóc to vẫy đen bóng mượt, bơi lội vùng vẫy, lồng
lộn, nước bắn tung toé trong các thùng nhôm , một nửa đậy lại bằng những
chiếc sàng đan bằng tre thưa mắc, những chú lươn con xanh biếc không ngớt
bò lắn quắn bên cạnh chú lươn vàng óng ánh nằm ngất ngưỡng kênh kiệu.
Những thau nhôm nhỏ lớn đủ cở cuả người dân chứa đầy các thứ thuỷ sản, tôm
cá, hầu hết bắt được từ trong đồng sâu, nào là cá giăng câu, cá mè nuôi
trong vườn, cua đồng, ốc bưu, ốc đắng " Xóm gà cũng chẳng kém, bên cạnh
anh gà trống ngóng cổ cất tiếng gáy hùng dũng, mấy chị gà mái oang oác cải
nhau, bầy gà con ngơ ngác ríu rít nhìn quanh, như cái xóm nhà lá hổn độn "
Bằng Tăng, chẳng biết tên gọi nầy có từ bao giờ, có lẻ do tiếng phiên âm
từ vùng đấtThủy Chân Lạp xa xưa, cùng tên với con sông nhỏ mang nước từ
sông cái, hay Hậu giang, một nhánh của Mekong, khi vào lảnh thổ Việt nam
chia thành sông Tiền và sông Hậu, người dân quê đã quen dùng tên gọi nầy
nên không thay đổi được, mặc dù đã bao nhiêu lần, tấm bảng treo trên công
sở viết rõ ràng Xã Thới Long, đã được ông Hai Hoa mang xuống sơn phết kẻ
bóng tô màu .Ông Hai ngoài công việc chính làm y tá còn có một cửa hàng
bán sách vỡ bút mực phía đầu chợ. Nhìn ông, bao giờ cũng thấy quần áo lấm
lem vết sơn chưa khô, đôi bàn tay vừa buông ống chích thì luôn luôn cầm
lấy cây cọ, sơn màu bê bết trên khắp mặt mũi.Trong nhà ông treo đầy những
bức hoạ truyền thần, ông vẽ theo trí nhớ, không thấy người ngồi mẫu, nhưng
tất cả những tranh vẽ của ông chỉ có một khuôn mặt thôi, dù vẽ trong mỗi
khung cảnh khác nhau, nét mặt biểu lộ tâm trạng vui buồn. Nghe nói thuở
ông còn đi học ở Cần thơ, say mê một cô gái bên trường nử, dùng khuôn mặt
người trong mộng làm mẫu, bạn bè thấy Ông có năng khiếu vẽ nên khuyên xin
vào học trường Mỹ Thuật, ông cụ thân sinh lại không muốn cho con trở thành
họa sĩ, chỉ muốn con làm thầy thuốc nên gởi ông vào bệnh viện học nghề y
tá, học xong mang Ông về quê cưới vợ và chia cho gia tài để làm vốn kinh
doanh, ông Hai thất tình cô bạn gái nên vẽ cô vào tranh treo dầy các vách.
Cuối cùng, chỉ vì một cuộc thách đố giữa hai người bạn mà ông cầm cọ trở
lại. Số là trong làng chỉ có ông Tám Thiên là người thợ vẽ, luôn bận rộn
và hảnh diện với nghề nghiệp của mình ,vì không có mấy ai tay cầm cọ, làng
cần gấp bảng tên ở trụ sở, bảo trong hai ngày phải xong, bạn bè khích
tướng, ôngHai Hoa bấc đắc dĩ phải nhận vẽ bảng hiệu,và hoàn thành trước
thời gian, mọi người thấy ông vẽ đẹp quá thi nhau đến nhờ, ông Hai cuối
cùng cũng trở thành hoạ sĩ.
Khu phố chợ gồm hai dãy nhà song song, đối mặt nhau, một nửa quay lưng vào
đồng ruộng, một nửa quay lại phía dưới sông, có căn xây hẳn thành hai tầng
lầu ,có căn xây gác lửng. Từ liên tỉnh lộ số 9, nối liền hai tỉnh lỵ Cần
Thơ và Long Xuyên vào đến chợ Bằng tăng chỉ hơn ba cây số, con đường nhỏ
trải đá xanh, chăm sóc con đường nầy có một nhân viên duy nhất của ty Công
chánh tỉnh lỵ, dân quen miệng gọi là ông Lục lộ, công việc hàng ngày của
ông là đắp lại các khoảng đường bị mưa lún, nhặt các viên đá xanh, dẫy cỏ
mọc hai bên. Con sông nhỏ chia đôi, bến đình và bến chợ, nối nhau bằng cây
cầu ván rộng có thể qua được cả chiếc xe hơi lọai nhỏ. Phía bên kia sông
là đồn lính Tây, chỉ một anh đội và vài anh lính tập , mấy chị vợ lính Tây
sống riêng biệt trong một chùm nhà gỗ. Họ có những sinh hoạt cách biệt với
dân làng vốn hiền hoà. Hàng ngày, cắp rổ đi chợ, họ di cùng nhóm với nhau,
ăn mặc diêm dúa, bạn hàng lẫn người dân đều kiêng, nhẩn nhục trước sự hách
dịch xáxh mé và hổn xược, họ ỷ lại dựa thế vào quyền hành cuả ông đội, mua
bán thì trả rẽ món hàng, không mua được thì xúm nhau chuởi bới, đôi khi
đánh đập cả người bán.
Tay cầm chiếc lượt sừng, nhẹ nhàng chải mái tóc dài quá lưng, đen mượt,
bôi tí dầu dừa vào tay, đôi bàn tay quen thuộc, cử động khoan thai, Cô rẽ
đường ngôi, chia tóc ra làm đôi, dánh lại thành sợi dây thừng, quấn vào
sau ót, giắt lại chiếc lược đồi mồi, cô Phi rất nổi tiếng trong khu chợ,
không vì cô là con gái đầu của ông Hương chủ, mà vì cô là người rất khéo
tay, thông minh , vẹn toàn công dung ngôn hạnh, từ việc bánh trái trong
nhà, lời ăn tiếng noí nhẹ nhàng, thêu thùa may vá, cho đến những kiểu tóc
búi hàng ngày, kiểu giản dị thả mồng gà , kiểu cầu kỳ như đầuLèo, múi
bí"cô đều học hỏi và thực hành cho đến lúc thành công.Ôâng Hương chủ, thân
sinh cuả cô, dân trong làng không ai lạ gì tính tình thẳng thắng, cương
trực và rất mực công bằng cuả ông, mồ côi cha, sớm mất anh, nhận chức
Hương chủ khi hãy còn rất trẻ, lo lắng giúp đở mẹ nuôi nấng ,chăm sóc một
bầy em, dựng vợ gã chồng, chia cơ nghiệp đất đai cho các em có căn bản để
làm ăn, sau cùng, chính bản thân ông mới mang gia đình vợ con về xóm chợ,
xây dựng cơ nghiệp cho riêng mình .Ô ng có tất cả bảy người con, bốn cô
con gái, Cô Phi lớn nhất, cô thứ Phương và Phiến nối nhau, cả ba đang tuổi
thanh niên, cô Phấn hãy còn thơ, ba cậu con trai, cậu Đức, cậu Phú và cậu
út Minh .Bà Hương là người rất mực chân quê, đảm đang, nhân từ, bao dung
.Những năm vải ta vải tám, thời chiến tranh với Nhật đảo chánh Pháp , hàng
vải và các thứ sản phẩm cần dùng hàng ngày thật khan hiếm, người dân quê
không còn quần áo lành lặn, có gia đình đã phải dùng cả bao bố tời để che
thân, bà và ba cô con gái nuôi tằm , dệt vải, kỷ thuật thơ sơ, nhưng rất
tiện dụng. Trong làng, những người nghèo khổ gặp khó khăn thường đến cầu
cứu , khi thì chén gạo , khi thì manh aó"bà luôn luôn giúp đở.
Vốn sinh trưởng trong một gia đình nông dân, đồng cảnh ngộ cha mất khi bà
hãy còn thơ, Mẹ ở vậy nuôi con, chăm sóc ruộng nương, lớn lên, giúp đở Mẹ
cáng đáng gia đình, cho đến lúc thành nhân theo chồng, lại gánh thêm giang
san nhà chồng, đã quen cảnh Mẹ quá bụa, thêm đông anh chị em, là con gái
lớn trong nhà, ruộng luá một tay bà trong ngoài cùng chồng chăm sóc. Nuôi
dạy bầy em, long đong theo chồng, những năm tháng thăng trầm, gánh gồng cả
bầy con xuống chiếc ghe lườn độc mộc, tản cư về Thốt Nốt, hay cắm sào
trong vàm Cần thơ Bé.Khi bồng chống bầy con dại , khi che giấu ông Hương
trốn lánh những cuộc săn đuổi ráo riết. Cuối cùng hồi cư, dựng được căn
nhà gỗ sơ sài, bà lại tập tành bán buôn gầy lại cơ nghiệp. Trong lúc ông
Hương lo làm việc, tổ chức lại làng xóm, cơ cấu hành chánh, trường học,
chợ búa, thì bà và ba cô con gái lo chăm sóc cửa hàng, thêu thùa may vá,
nấu nướng làm bánh trái, nhận dạy học trò .
Trong làng chỉ có một ngôi trường duy nhất với ba phòng học, các cô đã
thôi học từ khi phải tản cư, những ngày đậu ghe ở Thốt nốt, bà cũng cố
gắng cho các con tấp tểnh đến trường, sau khi thi đỗ Sơ học, sang Tiểu
học, học đến ban Thành chung, trở về làng thì trình độ của các cô đã vượt
qua các lớp học, muốn tiếp tục thì phải về trường ở tỉnh lỵ, trong hoàn
cảnh lúc bấy giờ đó là chuyện không thể thực hành. Bà Hương lại lo âu một
vấn đề khác, các cô học hành đã cao hơn trai tráng trong làng, lại tiếp
tục đi học giỏi hơn nữa thì như vậy biết tìm ai mà gá duyên kết nghĩa
chồng con ? Nhưng không cho các con đi học thì Bà cũng thấy uổng cho cái
trí tuệ trời ban, ngay chính bản thân bà, luôn hiếu học, khi các con cắp
sách đến trường cũng là lúc bà bắt đầu học chử Quốc ngữ, toán pháp, từ
toán cộng tính trừ, phép nhân chia, từ chử cái học sang đến nguyên âm, phụ
âm, vần ngược vần xuôi, lần lần bà đọc được chuyện Nhị thập tứ hiếu, Tấm
cám, PhạmCông Cúc Hoa, truyện Kiều thì bà đọc đến nằm lòng .
Ngày Đức Thầy khai sáng Phật Giáo Hoà Hảo, bà cặm cuội mua tập giấy học
trò chép tay lại mấy quyển Sấm Giảng thi tập, Bửu sơn Kỳ hương ,và thuộc
lòng bao nhiều bài kệ kinh cuả Phật Giáo Hoà Hảo, lấy mười điều răn dạy
cuả Đức Thầy làm mực thước ăn ở, cung cách đối xử với người ngoài cũng như
dạy dỗ con cháu trong nhà.
- Anh Bá , chuyện lớn rồi, thím Hương bảo tôi đi đón anh về.
- Chuyện gì mà như lưả cháy mày vậy ?
- Đi nhanh lên cho kịp con nước, gấp lắm rồi, ghe còn chờ dưới bến,
mình vừa đi vừa kể.
Bá chụp cái kết đội lên đầu, theo chân Thương xuống bến, chiếc ghe tam bản
và hai người bạn chèo còn đang đợi. Bá bước xuống, ngồi vào giữa, Thương
cầm cây dầm, tháo sơị xích bỏ vào khoang đầu, vừa ngồi xuống sạp, luôn
miệng hối bạn chèo nhanh, xuồng vừa ra giữa dòng, anh tóm tắt câu chuyện,
Bá ngồi nhấp nhổm, biết tính tình thẳng thắng của cô em, cộng với các ngón
nghề gia truyền, trong tất cả các anh em họ, ngay cả Ba Vinh còn bị Phi
đánh gẫy tay, thì cái bọn đàn bà tạp nhạp kia làm gì đụng tới chéo áo, chỉ
ngại bọn đó lôi kéo đám lính vào, mảnh hổ nan địch quần hồ , có chuyện gì
thì ăn nói làm sao ?
Bá hiểu hơn ai hết, tính tình Phi cứng rắn, hào hiệp, gặp chuyện bất bình
thì sẽ không ngại gì mà không ra tay. Phi mỏng manh như tre, như trúc, mặt
bao giờ cũng tươi vui. Nhìn vóc dáng mảnh mai đó, chớ dại mà trêu vào, đã
không biết bao nhiêu lần đôi bàn tay quen thêu thùa may vá đó cầm roi rượt
cướp, chỉ cần mấy đường quyền thôi cũng đủ bạt vía kinh hồn. Hậu duệ bà Kế
Hiền, người phụ nử nổi tiếng trong vùng, từng tay không bắt trộm cướp với
đầy đủ dao búa. Phi chẳng từng thách cả mấy ông anh họ có chạm được chéo
áo thì cô thua một chầu, cho đến nay thì vẩn chưa có anh em nào làm được.
Phương hiền hòa nhất trong ba cô em, tính tình trầm lặng, ít nói, nhưng
cũng khéo léo không thua gì Phi.Về nghề riêng thì cô chuyên về roi mềm,
nhìn cây roi mỏng tanh như sợi dây thừng, nhưng khi lọt vào tay Phương thì
như rồng rắn giởn mây. Đứng cách xa vẩn nghe tiếng xé gió đến rợn người.
Tuy nhiên, khác hẳn tính nóng nảy của Phi, cô luôn dịu dàng, không bao giờ
thách đố các anh em, luôn nhường nhịn, nhẩn nại, giúp đở mọi người, nhất
là trong thân tộc, anh em bất cứ một ai khi gặp khó khăn, chỉ cần đến cầu
cứu Phương là cô luôn tận sức giúp cho.
Phiến thì bồng bột và liếng thoắng, tính như con trai, cô là bài toán đố
khó nhất cho Bà Hương, thuở nhỏ, cho Phiến vào trường của ông giáo Tất đi
học vở lòng thì lén theo bầy trẻ trốn ra đồng bắt dế mọi, dế đá, chuồn
chuồn, châu chấu, lớn tí thì chạy theo bọn mục đồng theo trâu, chăn bò, có
lần Phiến cởi lưng con bò mộng chạy như ngựa tế trước bao nhiêu là đôi mắt
sợ hãi của mọi người, mặc dù sau đó thì cô bị một trận quì hương tê cả hai
đầu gối. Chuyện đi học như một cực hình cho cô thì nói gì đến chuyện nử
công gia chánh. Cô chỉ thích quanh quẩn khi các chị làm bánh để được ăn
vặt thôi. Tuy nhiên cô là người rất thẳng tánh, và cũng rộng rãi thương
người như Mẹ, Phiến luôn bao che, giúp đở cho kẻ yếu đuối hơn mình .
Ba cô em gái tuổi cập kê, lẻ ra đã yên bề gia thất, khổ nổi thời buổi nầy,
trai tráng trong làng lớp vào bộ đội Việt Minh, lớp theo đảng phái, còn
lại nông dân chất phác. Phi và Phương thì đang học dang dở ban Thành
Chung, trong làng không có bao nhiêu gia đình cho con gái đi học xa, hai
cô trở về nhà chỉ quanh quẩn phụ giúp Mẹ trông giử cửa hàng buôn bán vải
vóc tơ lụa, cùng các thứ bánh nướng, bánh tây, bánh ta" Ông Hương ngoài
công việc làng xóm thì chăm lo vườn ruộng. Bà hương cũng muốn tìm nơi xứng
đáng cho hai con yên bề chồng con, nhưng người trong làng quê mùa không
dám đến hỏi, người ở tỉnh lỵ xa xôi không về tới. Phi và Phương hình như
không mấy quan tâm, hai cô sống bình an với công việc hàng ngày. Chính bản
thân Bá cũng nhiều lần mang bạn bè về giới thiệu, nhưng rồi đời quân đội
nay dời mai ở, cuối cùnghai cô em vẩn chưa tìm được nơi nào thành thân chi
mỹ .
Ghe vừa đến bến chợ, Bá nhảy phóc lên bờ, cẩn thận giấu cây súng lục vào
người, anh đi một mạch về nhà. Ba Cô em đang ngồi chụm đầu trên ghế, vừa
thấy Bá bước vào là đứng phắt dậy ,cô Phiến láu táu
- Anh về thật là kịp lúc, bọn chúng bắt Má em giải qua đồn rồi
- Ai bắt ?
- Ông Đội Tây .
Cô chưa kịp dứt lời Bá đã ra khỏi cửa, anh bước như chạy. Con phố chợ hàng
ngày đông đúc, bạn hàng tấp nập, chỉ thấy lác đác người bán mua vội vã.
Anh tới trước hàng rào gai ngõ vào đồn, bảo anh lính gác
- Vào báo với ông Đội có người đến thăm .
- Anh là ai ?
Anh lính còn chần chờ thì Bá vổ nhẹ vào báng súng rồi lập lại
- Vào trình với ông Đội là có anh Bá đến thăm.
Trong lúc đó thì có anh lính già vừa bước ra, trông thấy Bá đứng trước
cổng, anh ta vội vã chào:
- Anh Bá, gió nào đưa anh về đây vậy? Vào đây, vào đây, thật là quí
hóa, anh có muốn làm ngay một ly cho ấm bụng không ?
- Chờ Tôi một chút, có tí chuyện phải giải quyết, nghe nói ông Đội đang
làm việc?
- À! Ông đang tiếp chuyện bà bạn hàng bên chợ, nghe nói mấy bà lôi thôi
gì đó.
- Tôi vì chuyện lôi thôi đó mà phải về đây, dẩn tôi vào gặp ông ấy đi
Bà Hương điềm nhiên ngồi trên ghế, đối diện là Ông đội, vừa thấy Bá bước
vào ông đứng bật dậy mừng rỡ .
- Chào anh Bá, đến thăm tôi bất ngờ quá, mời ngồi, mời ngồi "
Bá chào ông rồi quay sang Bà Hương
- Thưa Thím con mới về.
- Ồ! Bà đây là người nhà của anh ?
- Vâng! Để tôi giới thiệu đây là Thím của tôi, tôn kính cũng như Mẹ, từ
khi ông bà thân sinh qua đời, Chú Thím thay thế cha mẹ nuôi dạy hai chị em
chúng tôi, không có người chăm sóc tôi không có ngày nay.
Ông đội quay sang bà Hương :
- Thế thì phải xin lỗi, tôi không biết Bà là người nhà, thôi thì ta hãy
giảng hòa vậy, hai bên bỏ qua mọi chuyện cho êm xuôi.
- Vâng! Bọn trẻ con nóng tính, con dại cái mang, tôi cũng xin ông bỏ
qua cho, để tôi về sẽ lo răn dạy bầy trẻ trong nhà.
- Nếu anh giải quyết công việc như vậy thì xin cho tôi đưa Thím về xong
sẽ trở lại hầu anh vài ly
- Tốt, tôi chờ, anh đưa Thím về, để tôi gọi họ chuẩn vị dọn cho chúng
ta một mâm rượu nhé
Không ai hỏi cũng biết sau khi Bá đưa bà Hương về nhà thì sẻ có một màn
giáo huấn với hai cô em. Dù biết mình không có lỗi, nhưng thương và nể
anh, hai chị em Cô Phi và cô Phiến cũng ngồi im nghe Bá tụng cho một hồi
kinh kệ đến lùng bùng đôi tai, trước khi Bá ngất ngưỡng trở qua cầu tối
hôm đó, thân thể lắc lư, chân hưu chân nai, mặt đỏ như mặt trời .Hai cô em
lại phải mang khăn lau mặt, giăng mùng cho ông anh nằm như khúc cũi, bà
Hương vào ra lắc đầu"
Sau trận đòn hội chợ, mấy người vợ lính Tây có đi chợ hàng ngày cũng e dè,
không còn ngang ngược khinh dễ bạn hàng như trước. Khu chợ nhỏ trở lại
cuộc sống êm ái hàng ngày, những biến chuyển quốc gia trọng đại cũng không
làm người dân bận tâm hơn chuyện mưa nắng,chuyện công vụ mùa màng.
Giữa cuộc sống êm ái đó, tin báo Bá tử trận trong một cuộc chạm súng ở
giáp nước, người bạn thân nhau lúc còn học chung khi xưa hộ tống thi hài
anh về cho gia đình mai táng.Anh ta cũng mang theo vết thương chân còn đi
khấp khểnh, vai băng bó sơ sài. Phi trở thành cô y tá bất đắc dĩ, lo chăm
sóc hàng ngày, chuyện trò ban đầu còn bâng quơ e dè, dần dà trở thành
tương đắc, khi Trung bình phục và không còn lý do gì để nấn ná, anh từ giã
gia đình mang theo mảnh khăn thêu cùng lời hứa hẹn sẽ trở về.
Cuộc chiến thay đổi, Nhật vào Tây đi. Đồn lính Tây bỏ trống, đã không còn
bóng dáng những người lính ra vào, hàng rào Cuộc chiến thay đổi, Nhật vào
Tây đi. Đồn lính Tây bỏ trống, đã không còn bóng dáng những người lính ra
vào, hàng rào kẻm gai xiêu dẹo, gạch đá chỏng chơ, lô cốt bụi bám nhện
giăng"
Cô Phương đã theo chồng, đứa con gái đầu sinh ra nhỏ nhoi èo uột, năm sau
lại sinh thêm đứa con trai, cô mang đứa con gái về gởi chị trông nom, hai
vợ chồng dắt nhau ra chợ quận làm ăn. Phi tiếp tục công việc trông coi cửa
hàng , Cô Phiến cũng đã có người đến hỏi, sẽ theo chồng nay mai.
Đứa con gái èo uột của cô Phương được bàn tay Phi săn sóc, chăm lo, lớn
lên khỏe mạnh, dù vẩn bé như con búp bê. Cô dồn hết tình thương cũng như
thời gian, suốt ngày, đan may bao nhiêu áo quần cho con bé. Nó chơi quanh
quẩn trong cửa hàng, trong lúc Cô lo chuyện bán buôn, bạn hàng ở xa nghe
con bé gọi cô Phi bằng Mẹ, tưởng là cô đã lập gia đình.Thật ra trong thâm
tâm cô vẩn chờ đợi một ngày về.Đã mấy lần xuân , bà Hương vẩn nhắc ..con
gái có một thời" chờ đến bao giờ, nhưng Phi vốn cứng rắn, cá tính đó ai
còn lạ gì ? Bên trong cái vẽ dịu dàng đó, chứa một con người đầy tình cảm,
đã thương yêu thì dù có phải chờ đợi bao lâu cũng cam tâm.
Giữa những xao động của chiến cuộc, hai năm tổng tuyển cử không thành, đệ
nhất cộng hòa lúc ban sơ, cuộc sống dân quê trong làng quay theo sự thay
đổi hàng ngày. Ban đạn diện xã ấp lần lượt thay thế cho bóng áo dài đen
khăn xếp của các Hương chức hột tề, cùng lúc với những khó khăn thiếu thốn
về tất cả mọi mặt, nhất là ngành y tế, thuốc men "
Bà Phó tất tả xỏ tay bào chiếc áo bà ba, hấp tấp quên cả đôi guốc mộc, đôi
chân trần thoăn thoắt, chuyện lớn rồi, mấy hôm trước còn thấy Cô Phi xách
giỏ đi chợ mà, sao lại đi nhanh như vậy ? Cửa hàng vải vắng ngắt, khung
kính bôi vôi trắng báo hiệu nhà có tang chế, con bé ở đôi mắt đỏ oe, hé
cánh cửa, chưa kịp thấy bà đã khóc òa lên .
Trong nhà, trên bộ ván gõ, mấy người đàn bà đang ngồi cạnh đống quần áo,
họ xổ ra những chiếc áo bà ba thêu, những chiếc áo dài lụa ngà, vừa cắt
khuy áo, vừa chụm đầu thì thầm to nhỏ:
- Chừng nào thì mới khởi sự liệm cô Phi?
- Chỉ chờ cô Phương về tới, chắc khoảng quá ngọ thôi.
- Có ai lại đàng bà Chín lấy nồi đất chưa ?
- Để làm gì ? Nhà có thiếu gì nồi đồng, nấu bao nhiêu chẳng được.
- Không phải mua nồi nấu nướng, mua để úp mặt cô Phi trong hòm đó.
- Chi vậy? Tại sao phải úp mặt làm gì? Đã liệm bằng mấy chục xấp vải
mùng rồi.
- Thì người ta vẩn thường làm vậy mà.
- Bà nói chuyện đùa ,Ông Hương là tín đồ Hòa Hảo thuần thành , dể gì
ông làm mấy chuyện mê tín dị đoan đó.
- Nhưng cô Phi là gái cao số, chưa gã chồng , lại chết bất đắc kỳ tử ,
ông bà thường bảo con gái chết đồng trinh hay theo về báo con bắt cháu.
Nhất là cô có cả mấy đứa con cháu còn thơ. Ai cũng bảo có kiêng có lành,
hay là mình nói với Bà Hương vậy .
- Tôi nghĩ bà không dám trái ý ông đâu, ông luôn bảo tử, thì táng nội
trong ngày hôm nay phải lo cho xong việc chôn cất.
- Bộ ông không tổ chức đám tang, ít nhất cũng quàn lại mấy ngày cho
người ta đến viếng thăm ?
- Dù không là tín đồ Hòa Hảo, nước nôi nầy, trong làng đang có bệnh
dịch hoành hành ai dám quàn lại ?
- Thật là khó ăn khó nói, ông Hương tính tình cương quyết lắm, không dễ
gì lay chuyển được đâu .
Phương buớc vào nhà, khuôn mặt tái xanh, cô chưa kịp thả con xuống đã hỏi
ngay
- Có thật không ? Hay chỉ nằm mơ ?
Phiến vừa thấy chị là khóc òa lên, Phương đứng lặng người, con Bé thấy Mẹ
về vội chạy lại mừng, mẹ nó ngơ ngẩn, thả thằng bé con trên tay xuống rồi
ngồi phệch xuống bộ ván ngựa ôm đầu, hai đứa bé con bị người lớn bỏ quên
một góc nhà, ai cũng bận rộn lo việc tang ma, người bàn ra tính vào, nhưng
rồi không ai dám thố lộ ý nghĩ, dù trong lòng thật là xốn xang.
Đám tang Cô Phi lặng lẽ không kèn trống, ngôi mộ mới nằm trong đất nhà bên
cạnh mộ của ông bà . Mấy năm liên tiếp hoàn cảnh khó khăn, thuốc men thiếu
thốn, trong làng đang bị bệnh dịch hoành hành, chỉ riêng trong họ hàng,
mỗi gia đình đều có người thân, bất luận già trẻ, chết vì bệnh dịch tả,
nhà nhà quét vôi trắng xóa chung quanh. Những ngôi mộ mới đắp vội vàng
trong nghĩa trang chung phía sau đình làng. Trong trại cưa cây, thợ mộc
làm việc thật vất vã cũng không đóng kịp, đôi khi chỉ cưa đóng loại hòm
ván xoài ghép lại thật sơ xài để kịp mang đi chôn. Người dân quê vẩn còn
tin tưởng vào bùa phép, thầy pháp được dịp, bày các chuyện lễ cúng, và
luôn bận rộn với những buổi lể cúng kiến trừ tà ma, những tiếng trống kèn
vẩn vang lên hàng ngày, con sông nhỏ không ngày nào vắng những chiếc bè
chuối cắm cờ xanh đỏ gọi là bè tống dịch . Khu xóm chợ đìu hiu, hàng quán
cũng vắng vẽ tiêu điều"
Những chuyện lạ lùng sảy ra trong nhà, bắt đầu từ con Bé chơi đùa tinh
nghịch bị Mẹ phạt quì, bỗng dưng, cái lư hương trên bàn thờ cô Phi bốc
cháy, bao nhiêu chân nhang biến thành tro bụi. Rồi những người đi chợ sớm
quả quyết rằng trông thấy cô Phi ngồi ngoài băng đá trước hiên nhà. Tiếp
đến, người bạn mua hàng vải còn thiếu tiền, không ai biết là bao nhiêu,
lại mang tiền đến trả, bà ta kể rằng tối qua nằm mơ thấy cô Phi về nhắc
lại, đã đến kỳ. Chuyện lạ nhất là trong ngày cô mất, khi người nhà chuẩn
bị xuống chợ quậnđể báo tin, di dược nửa đường thì trông thấy cô Phương
đang tất tả bồng con về thăm. Cô còn nói là ngũ mơ một giấc lạ quá, thấy
Cô Phi mang con Bé đến trả lại, còn nói là không thể nuôi được nữa, bấy
giờ người nhà mới bảo với cô là cô Phi đã qua đời.
Người ta đồn đại cô chết trẻ nên thiêng, hồn còn quanh quẩn chưa siêu
thoát, lúc sống cô hay giúp người, nên khi chết cũng không làm hại ai.
Người đến giúp việc trong nhà thường bảo nhau Cô thiêng lắm, liệu mà giử
gìn, cô ghét những người gian trá, xảo quyệt, lọc lừa. Trên căn gác nơi
thờ phượng ông bà, bên dưới có đặt một bàn thờ nhỏ có di ảnh cô, hàng ngày
hương khói. Người thì bàn rằng cô chờ Cậu Trung về hỏi, hai người khi xưa
đã dặn dò, thề hẹn, bởi vậy cô mới không lấy chồng, giờ mất đi còn vướng
lời thề nên không thể siêu thoát.
Những chuyện đồn đãi lần lượt đến tai ông bà Hương, hai người để tránh
chuyện bàn ra tán vào, nhất là còn lại mấy đứa con gái trong nhà, người
ngoài không hiểu sẽ sinh ra lắm chuyện lôi thôi. Ông bà chọn ngày tốt, đến
lễ với Sư bà xin dọn bàn thờ gởi cô Phi lên chùa trú ngụ.
Ban đầu thì cũng chẳng có chuyện gì sảy ra, ai cũng nghĩ là chuyện đã
xong, cho đến những ngày trăng sáng, có người phát hiện bóng cô gái áo
trắng thoạt ẩn hiện như bóng ma, thường ra vào Quan Âm Các, cô ta chỉ thơ
thẩn dưới bờ sông hay trong vườn, chẳng quấy rầy ai, hỏi lại thì không ai
biết tên tuổi cô, người địa phương nào, chỉ biết là cô hay đeo xâu chuổi
ngọc trai và khuôn mặt lại giống hệt như bức ảnh thờ của Cô Phi đặt bên
nhà vong sau hậu liêu .
Sư cô dứt lời thì đêm đã xuống từ bao giờ, người đàn bà đưa đôi mắt láo
liên nhìn ra trước sân, từ đây xuống bến sông phải di ngang qua khu vườn
hoa, bà ta không muốn nhớ lại cái bóng trắng và khuôn mặt xanh xao của cô
gái. Sư cô như thấu hiểu sự sợ hãi bâng quơ của bà
- Mô Phật, đã muộn rồi, trời sáng trăng, để Sư Cô đưa bà xuống bến
- Dạ.
Mặt trăng đã lên trên đỉnh đầu, ánh sáng thật dịu dàng, người đàn bà đi
theo sát cái bóng áo nâu của Sư cô, dưới mé sông, hàng dừa rũ bóng lá reo
vui xào xạt, chiếc xuồng cột lúc ban chiều, mũi xuồng gìm xuống theo con
nước lớn kéo căng sợi dây mắc xích , vói tay cầm sợi xích thả vào khoang
mũi, nhổ lấy mái dầm cắm bên cạnh, vừa đẩy xuồng tách bến, bà chào Su cô
lần nữa, nhìn lên sân chùa, bên cạnh pho tượng hiền hòa của Đức Quan Thế
Âm hình như ẩn hiện cái bóng áo trắng chập chờn, bà ta cắm cúi bơi thật
nhanh tay.
Vũ Thị Thiên Thư
Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved