Cây Gạo Ven Sông

ĐÀO QUỐC BẢO

Sau cơn bão tuyết kéo dài tưởng chừng như không bao giờ dứt, ngoài trời rực sáng, một thứ ánh sáng trong vắt như pha-lê. Cảnh vật tuy bị chìm sâu dưới lớp tuyết dầy, nhưng ngược lại, người ta cảm thấy trong vườn, ngoài sân và ngay cả trên mặt lộ hình như được nâng cao lên. Tuyết! Chỗ nào cũng tuyết! Tấm áo choàng khổng lồ với mầu trắng tinh khôi đã làm bối cảnh cho những sinh hoạt của người và vật nổi bật.
Tổn thất đầu tiên được Hân ghi nhận là bức rào thưa ngăn vườn nhà chàng với vườn nhà hàng xóm phía bên phải đã bị trận bão vặn ngả nghiêng, gần xập, và rất có thể, vào một lúc nào đó, rất gần và rất bất ngờ, đám hoa thảo thu hẹp, bé tí teo trong vườn, nhất là khóm hồng nhung duy nhất của Hân còn xót lại giữa băng giá. Khóm hồng này là một loài hoa còn chút thủy chung đối với chủ, tuy lá cành trơ trụi nhưng cũng còn đôi ba chùm bụ bẫm vừa nụ vừa hoa đỏ thắm, nổi bật trên nền tuyết trắng. Khoác vội áo pa-kha, xỏ đôi ủng to kềnh, với đôi bao tay trên lò sưởi, Hân choãi chân, một tay vặn núm cửa phòng khách, ghé vai, dùng sức đẩy từ từ cánh cửa bị tuyết phủ dầy, rồi chàng lách mình ra ngoài vườn và lội ngay sang chỗ hàng rào đổ, gần khóm hồng nhung. Hân đã đặt hai tên cho nó, lúc thì gọi nó là “
Khóm Hải Đường”, lúc khác lại kêu nó là “Cây Gạo”. Hẳn là phải có nguyên nhân ?
     Đây là một giống hồng nhung tuyển chọn trong vườn ươm và được Hân nâng niu chăm bón từ hơn chục năm nay: Thân cây đỏ tía,mập, khỏe, hoa to, cánh dầy mầu đỏ thắm, khi nụ hoa chúm chím hàm tiếu, hơi loe Hân thấy nó giống hoa Hải Đường, và đến khi nở xòe to, ngắm nó, chàng lại hình dung ra bông hoa Gạo. Những ngày đông giá như hôm nay, tuy cây cành trơ trụi, hoa vẫn thủy chung gượng gạo hương sắc trong vườn như để làm vui lòng chủ, khiến cho Hân trạnh lòng nhớ đến những chùm hải đường e ấp giữa đám lá xanh đen trên bàn thờ nghi ngút khói hương của những mùa Xuân đoàn tụ, những cái Tết thanh bình; và hoa cũng làm cho chủ mường tượng đến cây gạo ở phủ Quốc Oai, Hân như sống lại những ngày tháng tản cư ở hậu phương, những mùa Xuân ly loạn đầy bất hạnh mà bùi ngùi trong dạ.
Hối hả lục lạo khắp vườn, cuối cùng thì Hân cũng tìm được 2 cây cọc gẫy nằm xâu dưới tuyết, chàng đến nâng tấm rào đổ và lấy cọc chống lên, tạm bơ, nhưng thấy cũng bảo toàn được cho cả “
cây gạo” lẫn “cây hải đường”.
Ở nước ta, tứ thời tiết nạp, có nghĩa là quanh năm suốt tháng đều có những ngày lễ tết. Nói về hoa thảo thì cũng có những loài hoa khác nhau trong suốt bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông mà tiêu biểu là Mai Lan Cúc Trúc thể hiện trên 4 bức tranh tứ bình, thôi thì mùa nào hoa nấy, đua nhau phô sắc khoe hương. Vốn sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, Hân còn nhớ được là cứ mỗi độ Xuân về, người ta thường chơi cành đào, chơi cúc, tỉa thủy tiên, trưng hoa hải đường trong lọ độc bình trên bàn thờ tổ tiên v.v…Ở miền quê, trên đê, đầu làng cuối xóm, hoa xoan hoa gạo nở tưng bừng. Tại những nơi thanh nhã, u trầm lại thường có những giò địa lan tha thướt e lệ khoe hương. Mùa Hạ, trong đầm sen nở thơm ngát mỹ miều, ngoài vườn hoa lựu phô sắc thắm, có những con đường phượng vĩ đơm hoa…Khi cúc nở rộ là dấu hiệu của mùa Thu. Lập Đông, dường như chỉ còn lại tùng, trúc và chút ít hơi hướng của phương Tây, đó là cây hoa trạng nguyên, biểu tượng của mùa Giáng Sinh.
Từ ngày gây được vườn hồng, như một thông lệ, hàng năm cứ vào cuối Thu, tất cả những khóm hồng trong vườn đều được Tùng cắt tỉa cành, chỉ để lại 60 phân tính từ mặt đất, xịt thuốc trừ sâu, làm cỏ và vô phân gốc, và chờ đợi mùa Xuân tới để lại được ngắm hồng. Nhưng từ mấy năm nay, bụi hồng “
lưỡng danh” duy nhất còn lại trong vườn hôm nay là không bị tỉa nhánh cắt cành như những khóm hồng khác bởi vì đối với Hân, nó vừa là hoa gạo lại vừa là hoa hải đường cơ! Những đóa hồng đã tàng trữ kỷ niệm cho Hân.
Hải đường thuộc họ Trà (Theaceae) là loài cây cảnh quý hiếm, có tên khoa học là Thea Amplexicaulis Pitard, được trồng nhiều ở bên Tầu và miền Bắc nước ta. Kỹ thuật trồng thường áp dụng phương pháp triết cành (greffage), người ta chọn những cành bánh tẻ để ghép cho cây cứng cáp, khỏe mạnh. Cây có thân mộc, vỏ nâu xẫm, lá hình ovale mầu xanh đậm, dầy và láng, mép lá có răng cưa, cuống ngắn. Cụm hoa có cuống dài phát ra gần ngọn từ 1 đến 3 hoa, nở theo dạng hình trứng, hơi loe, mầu đỏ thắm, chùm nhụy ngắn mầu vàng rực rỡ. Hoa không có hương thơm. Hải đường ra hoa vào mùa Xuân, có khi kéo dài cho đến mùa Hạ.
Hoa hải đường có một phong thái rất đặc biệt: Cây muốn nép mình trong muôn vẻ cỏ cây khác, mà rồi vẫn cứ nổi bật. Hoa luôn luôn muốn ần mình đi (vì vốn ít hoa) trong đám lá xanh ngắt rậm rì (nhiều lá) nhưng lại càng rực rỡ (vì mầu sắc tương phản của hoa và lá). Hải đường kín đáo mà chói chang, âm thầm mà đậm đà. Hải đường là loài hoa cao sang mà xưa kia chỉ được trồng ở cung đình, chùa chiền, những nơi quyền quí hoặc những nơi có cảnh vườn u trầm trang nhã của một nhà nho hay một ần sĩ. Người dân chỉ biết hoa hải đường qua thơ văn mà thôi :

Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ
Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu.

(Cung Oán Ngâm Khúc)

Hải đường lả ngọn đông lân
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà


(Kim Vân Kiều)

Bên Trung Hoa, thơ văn ca tụng hoặc liên quan đến hoa hải đường thì nhiều vô kể. Vào đời nhà Tống, Tô Đông Pha đã có bài thơ “Hải Đường” để đời :

Đông phong niểu niểu
phiếm sùng quang
Hương vụ không mông
nguyệt chuyển lang
Chỉ khủng dạ thâm
hoa thụy khứ
Cố thiên cao chúc
chiếu hồng trang.


Dịch là :

Phe phẩy mùa Xuân ngọn gió đông
Bên thềm hương ngát ánh trăng lồng
Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ
Treo ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng.


Hân như bị mê hoặc bởi loài hải đường, có thể nói là từ thuở thiếu thời, cái tuổi mới cắp sách đến trường, chàng đã mang trong tâm hồn non nớt bé bỏng hình bóng của những đóa hoa hải đường.
Những mùa Xuân đất Bắc của ngày tháng xa xưa là những mùa Xuân của thanh bình, của đoàn tụ. Ngoài cành đào, thủy tiên, hoa cúc ra, mẹ Hân còn trưng cặp độc bình cắm hoa hải đường trên bàn thờ tổ tiên. Trong đám lá xanh đen ẩn hiện một cách khiêm cung một hai chùm đơn lẻ vừa hoa vừa nụ đỏ thắm, không che dấu được sự tương phản của chùm nhụy vàng óng ả giữa những cánh hoa tươi thắm ken trong đám lá xanh đậm mầu. Hải đường không cho hương thơm: Ở những ngày tháng đó, Hân không cần biết. Hải đường có nét đẹp khiêm cung: Đối với Hân cũng không thành vấn đề. Cho đến những ngày buồn thảm đen tối nhất là ngày từ bỏ miền Bắc di cư vào Nam và ngày phải rời xa quê hương đi tìm Đất Hứa, nào còn tìm đâu ra bóng dáng hải đường, chàng thấy như thiếu vắng một cái, một cái gì thật gần gũi, thật cần thiết. Hoa hải đường gợi nhớ! Hải đường làm cho Hân nhớ đến kỷ niệm, nhớ đến gia đình với đầy đủ người thân, từ anh chị đến các em quây quần bên ông bà cha mẹ, bên nồi bánh chưng, bên bàn thờ nghi ngút khói hương với hải đường khiêm cung e ấp dáng Xuân. Ôi, ngày Xuân ấm áp làm sao !

"Cây Gạo Bến Đò"
Tranh phụ bản của Đào Quốc Bảo

     Nghĩ đến cây gạo, Hân thường tự hỏi: Cây gạo là một cây cổ thụ cho hoa đẹp vào mùa Xuân. Vậy mà không biết tại sao người ta gọi nó là cây gạo? Nó có liên quan gì đến thóc, đến gạo đâu? Và cho đến tận bây giờ, chàng cũng chưa tìm ra được một giải đáp thích đáng.
Để tìm hiểu, Hân đã lần mò tra cứu trong từ điển và một số tài liệu sách báo về hoa thảo, thực vật. Qua đó, Hân cũng chỉ ghi nhận được rằng cây gạo thuộc họ bông gòn (Malvacées hay Bombacaceae), được gây trồng ở những nước nhiệt đới, có những giống và tên khác nhau, xuất xứ cũng khác nhau : Kapokier Cây có thân mộc thuộc vùng Châu Á, họ Malvacées, cho bông gòn ( Le kapok là bông gòn, từ tiếng Indonésia). Cotonnier Cây thân thảo hay thân mộc nhỏ, họ Malvacées, có nguồn gốc từ Aán Độ, được gây trồng ờ những xứ nhiệt đới đề lấy bông. Fromager Cây thân mộc lớn, cũng họ Malvacées, nguồn gốc Phi Châu, gỗ trắng mềm, quả cho bông gòn. Silk Cotten Tree (tiếng Anh), Fromager, Arbre à Soie, Cotonnier Mapou (tiếng Pháp) đều có nghĩa là Cây Gạo, thuộc họ bông gòn (Bombacaceae), nguồn gốc từ Sirilanca, Aán Độ, được trồng ở các nước nhiệt đới Á Châu. Cây dễ trồng, phát triển nhanh, cho bóng mát, hoa đẹp và sợi v.v.và v.v…
Chao ôi, sao mà lắm tên nhiều họ thế không biết ! Hân cân nhắc đắn đo mãi: Nói cho cùng, loài thảo mộc này dù mang tên Tây tên Tầu gì thì cũng vẫn thuộc họ bông gòn, và tên Việt Nam cũng chỉ có một tên là Cây Gạo. Vậy việc gì phải rắc rối nhiêu khê, cứ gọi nó là cây gạo. Hai tiếng cây gạo nghe quen thuộc và thân thương làm sao í, Hân quyết định thế. Vả lại, cây gạo đã là một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn non nớt của cậu bé vừa tròn bẩy tuổi, nó bắt nguồn từ những biến cố chiến tranh bi thảm nhất dẫn đến nạn đói năm Ất Dậu 1945. Hân nghe bập bõm người lớn kể rắng nước ta thời đó không thiếu lúa gạo, với chiến lược gọi là Đại Đông Á, quân đội Nhật phá hủy tất cả dịên tích đất đai trồng trọt, bắt dân ta trồng đay, mặt khác, chúng dùng lúa gạo làm chất đốt thay than đá để chay máy trong cơ xưởng, chạy máy xe hơi, xe lửa, tầu thủy…Rồi còn đem lúa gạo đổ xuống biển : Nạn đói xẩy ra là điều hiển nhiên. Khắp nơi, dân Việt chết đói đầy đường đầy chợ, trộm cướp như rươi, tình hình đất nước trở nên nhiễu nhương bi đát hơn bao giờ hết.
Dần dà, tình hình đi đến giai đoạn khốc liệt hơn: Máy bay đồng minh trút bom đạn vào những khu nhà máy và vào cả thành phố Hải Phòng (Đồng minh với ai? Bom đạn Mỹ hay bom đạn Tây? Bé Hân hồn nhiên vô tư, không cần có ý niệm). Dân thành thị buộc phải rời bỏ phố phường, chạy ra ngoại ô về đồng quê tránh bom đạn. Gia đình Hân cũng theo làn sóng tản cư về làng Đôn. Thoạt đầu, cha mẹ Hân cho rằng rời thành phố lánh bom chỉ là tạm bợ, yên tĩnh thì lại về thành. Nhưng tình hình mỗi lúc một nghiêm trọng hơn, bom đạn cứ vô tình trút xuống thành phố, đứng trên Cầu Niệm, đường đi Kiến An, nhìn về thành phố, những cột khói đen ngòm bốc lên từ những bể lửa khổng lồ đỏ rực cả một góc trời. Khu nhà Hân chắc chắn đã biến thành bình địa. Cha mẹ Chàng quyết định đem con cái đi lánh nạn, càng ngày càng xa dần thành phố. Thôi thì bằng đủ mọi phương tiện, khi thì đường bộ, khi thì đường sắt, thậm chí có lúc phải thuê cả thuyền đò để lặn lội lên tận đồn điền của ông cậu ruột trên Sơn Tây. Dinh cơ của cậu chàng tọa lạc ở hữu ngạn sông Hồng, ngăn cách bởi những thửa ruộng trồng mía bạt ngàn và con đê uy vũ bảo vệ mùa màng và dân cư trong vùng. Từ đồn điền nhìn ra sông Hồng, một cây cổ thụ thân gốc xù xì ngạo nghễ án ngữ, cành vươn như những cánh tay Hộ Pháp bảo vệ dinh cơ của Oâng Đốc, cậu Hân. Mùa Hè xum xuê bóng mát, cuối Thu sang Đông, trút lá trơ cành để rồi mùa Xuân mở hội, lộc non mơn mởn, hoa khai đỏ rực một vùng: Đó là cây gạo duy nhất trong vùng. Những ngày đầu năm, nắng Xuân rực hồng ấm áp, những bông hoa gạo tươi thắm rực rỡ chấm phá trên cành xanh phơn phớt lộc non…Lâu lâu, đàn sáo sậu gây gỗ ồn ào từ ruộng đồng nhào lên cây gạo rồi thoát chốc hè nhau lao vụt xuống mé sông mầu mỡ phù sa. Khi thì đôi sáo mỏ ngà líu lo truyền cành đuổi nhau âu yếm. Họa hoằn có chú quạ cô đơn đậu chót vót trên ngọn cao im lìm bất động như một thiền sư…
Từ trên đê, chỗ cây gạo có đường mòn xuống bến sông để dân cư chảy đò ngang sang Bằng Lũng. Dù đi đâu và từ hướng nào đi chăng nữa, dân trong vùng đều lấy cây gạo làm điểm chuẩn.
Cây gạo là loại cây công nghiệp, nhưng ở đây không thấy nơi nào trồng quy hoạch, và trồng rải rác cũng không, “
cây gạo của Hân” là độc nhất vô nhị, nó là nhân chứng cho những vụ càn quét của lính lê-dương, mỗi lần có tin Tây càn, vì nhà có đàn bà con gái, cha mẹ Hân lại phải lo lắng dẫn con cái đi tìm nơi kín đáo hơn, hiểm hóc hơn để ẩn náu. Cây gạo cũng là nhân chứng của những phi vụ thả bom oanh tạc vu vơ dọc sông Hồng, thường xẩy ra nhất là khúc Việt Trì, máy bay đánh đắm thuyền bè qua lại trên sông, giết hại dân lành vô tội không biết cơ man nào mà kể, chúng không tha cả những thằng bé chăn trâu khốn khổ giữa đồng không mông quạnh…
Ngoài công việc quán xuyến một phần trong đồn điền giúp ông cậu, ngoài những cái lo chạy giặc, cha mẹ Hân cũng còn canh cánh trong lòng vì con cái bị gián đoạn học hành chẳng biết đến bao giờ…
Cuối cùng thì sau gần hai năm chạy loạn, gia đình Hân từ bỏ hậu phương, vượt qua vùng Tề để hồi cư về Hải Phòng. Thành phố chưa được hồi sinh, cảnh đổ nát hoang tàn khắp nơi. Gia đình Hân phải làm lại tất cả từ đầu, anh em Hân lại được cắp sách đến trường…Rồi từ đó, mỗi độ Xuân về, trên bàn thờ tổ tiên lại có hoa hải đường, nhưng…tuyệt nhiên không thấy bóng cây gạo trong phố thị, nhưng Hân vẫn nhớ hình dáng cây gạo ven sông của những ngày tháng loạn ly.
1954 đất nước chia đôi! Hân lại thêm một lần rời bỏ quê quán, theo gia đình di cư vào Nam. Ở đây, mùa Xuân không có hải đường và cũng không có hoa gạo, dĩ nhiên cũng không có các giống đào như Đào Phai (hoa nhiều, mầu hồng, lá phơn phớt xanh), Đào Bạch (hoa trắng, thưa), Đào Bích (đẹp nhất, dầy hoa, cánh kép, đỏ thẫm, lá xanh đậm). Song, duy nhất chỉ có một giống Đào Quả (hoa cánh đơn mầu hồng nhạt) được ươm trồng trên vùng cao nguyên Lâm Viên cốt để lấy hoa chứ không lấy quả. Mùa Xuân, người miền Nam chơi mai vàng. Để hội nhập, mẹ Hân cũng sắm cành mai để thưởng Xuân nhưng cụ chọn giống mai cổ thụ có cành xù xì gẫy khúc, lá nhỏ, hoa vàng nho,ũ cánh đơn, ngắm dáng cành với hoa chấm phá, đẹp như trong tranh Tầu.
Năm 1975 miền Nam thất thủ, hàng triệu người rời bỏ quê hương, bất chấp hiểm nguy, vượt đại dương đi tìm đất hứa. Gia đình Hân, kẻ tù đầy, người ra đi, người ở lại: Tan tác! Đau thương! Kẻ ở người đi, mãi rồi cũng gặp nhau trên vùng trời tự do. Nhìn trên bản đồ mới thấy họ xa cách quê hương cả nửa vòng trái đất. Với Hân, càng xa quê hương bao nhiêu, chàng càng nhớ hoa hải đường và cây gạo ven sông bấy nhiêu…..
Phàm là người Việt, mấy ai quên được cái đói năm Ất Dậu 1945! Tính đến nay, năm Ất Dậu 2005, vừa tròn sáu chục năm. Thuở ấy, bé Hân tuy mới 7 tuổi đầu mà đã là nhân chứng của thảm cảnh người chết đầy đường vì nạn đói. Bé cũng là nhân chứng của những ngày tản cư kham khổ, của những vụ Tây càn, những vụ oanh tạc tàn phá quê hương, giết hại dân lành trong thế chiến thứ hai, mối thương cảm cho đến giờ phút này vẫn còn đọng lại trong lòng Hân mỗi khi nhắc đến hải đường, nhắc đến cây gạo.
Khóm hồng nhung trong vườn nhà Hân như một bùi nhùi âm ỉ nhen nhúm tình gia đình, tình quê hương sâu đậm nhất.


Nhớ về Mùa Xuân Ất Dậu 1945
ĐÀO QUỐC BẢO

Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved