Du Ca Việt Nam

 Chuyện Ngắn

Bay Trên Bông Gòn

Nam Thảo

 

Chiều nay trời lạnh thấu xương. Tuyết trắng vẩn còn bay bay  bên ngoài kia cửa sổ. Thỉnh thoảng những luồn gió lạnh từ đâu thổi về làm những bông tuyết tung bay tứ táng đi về muôn hướng.

Quán nhậu Princes of Wales lớn như một hội trường như vậy mà tối nay chỉ có mấy móng ma khách lạc loài. Thật là lơ thơ tơ liễu buông mành!

Sau gần hai giờ chia vui với nhau qua nhiều ly bia, Phương và Quang đã trở nên thấm mệt. Cả hai nói riết đâm ra hết đề tài và một phần đã sật sừ, nên vài phút im lặng đã trôi qua..

Phương nhìn về phía trước, thấy trên tường bên kia treo một tấm tranh có một chàng trai đứng cô lẽ trên bờ cát đưa mắt về cỏi xa xôi, với một trời biển cả mông mênh trong buổi chiều tà.

Anh bâng quơ:

-          Mình đã nãn cho cuộc đời ly hương của mình rồi. Mà còn thấy anh chàng nầy đứng một mình trong cảnh “buồn trong cửa biển chiều hôm”, mình còn nãn hơn nữa!

Quang ngước lên nhìn tấm tranh. Anh nghiêng đầu qua lại:

-          Thật là một cảnh người buồn mà cảnh cũng buồn!  Thấy cũng nãn thiệt!  Nhưng mà nhà họa sĩ nào vẻ bức tranh nầy có thần quá!

Rồi Quang tiếp theo:

-          Tôi có một anh bạn ở Paris, cũng trong đám mình. Anh chàng nầy cũng có tài múa cọ ác lắm!. Anh ta mới giựt giãi nhất trong kỳ triển làm tranh ảnh địa phương vào giữa tháng 9 nầy.

-          Xét ra trong đám mình cũng có nhiều kẻ “sĩ”!. Không những vẻ sĩ mà lại còn thơ sĩ nữa là khác!

-          Đúng vậy! Trong đám mình cũng có nhiều thi hào già mà còn gân lắm! Nhưng tôi hơi ngạc nhiên: Có cụ hồi xưa dạy Toán-Lý-Hóa, mà bây giờ lại làm thơ nghe cũng ác quá!

-          Trời sanh ra nhiều người có nghề tay trái cũng giõi như nghề tay phải. Chuyện một thi hào ngày xưa dạy Toán mà bây giờ làm thơ hay thì chuyện có gì là lạ! Tưởng chuyện gì khác nữa mới là lạ chớ!

Đến đây, Phương ngưng lại. Anh hớp một ngụm bia trong khi Quang tiếp nối:

-          Nói về thi thơ, Phương nhớ thằng Cừ học lớp mình không?

-          Nhớ! Nhớ! Thằng Cừ đi lưng khom khom đó chớ gì?

-          Đúng rồi! Bồ nhớ không? Nó như một cái máy hát ra thơ. Không biết sao mà nó thuộc nhiều thơ quá! Hết của ông nầy  tới của bà kia! Nói về thơ tình thì nó là tổ sư!

Phương cười:

-          Tôi còn nhớ nó hay “nỗ” với tụi mình hàng loạt thơ tình tình, tứ tứ. Tôi nhớ nó hay đọc mấy câu thơ của T.T. Kh:

      …Nếu biết rằng tôi đã có chồng

      Trời ơi, người ấy có buồn không!

      Có thầm nghĩ tới loài hoa vở

      Tựa trái tim phai, tựa máu hồng…

Quang bổng thắc mắc:

-          Bạn nhắc mấy câu nầy, làm tôi nhớ vụ tên thật của thi sỉ T.T. Kh. Hình như có lúc tôi nghe nói T.T. Kh là thi sĩ Vân Nương tức bà Trần thị Vân Chung, vợ của luật sư Lê Ngọc Chấn ngày xưa, phải không?

Phương nhìn Quang tìm hiểu:

-          Sao bạn hay vậy?

-          Tôi đọc lạng quạng ở đâu đó!

Phương dè dặt:

-          Mình cũng không rành vụ nầy. Chuyện tên thật của T.T.Kh coi bộ cũng dài giòng lắm. Người thì nói thế nầy. Kẻ thì nói thế kia. Sự thật tới nay, vấn đề tên thật của T.T. Kh vẩn chưa ngã ngũ. Tôi cũng đọc láp giáp ở đâu thấy sau khi bác bỏ giã lý Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Thị Khánh là T.T. Kh,  vài nhà sưu khảo văn học cho rằng T.T. Kh là bà Trần thị Vân Chung. Nhưng cách đây vài năm, bà ấy đã lên tiếng phủ nhận.

-          Bộ bà ấy còn sống sao?

-          Còn! Hiện nay bà ấy ở tại Dordogne bên Pháp. Nghe nói bà nằm trong danh sách hội viên của Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Hải Ngoại.

Quang hơi ngạc nhiên:

-          Vây à!

Phương trả lời:

-          Tôi không “sure” lắm! Nhưng theo báo chí thì như vậy!

Rồi Phương tiếp theo:

-          Mặc dù tuổi đã cao, nhưng bà ấy vẩn còn làm thơ với bút hiệu Vân Nương. Tôi đọc bài Theo Vòng Ảo Giác của bà , thấy thi thơ của bà cũng còn  có hồn lắm. Tôi còn nhớ lang bang mấy câu:

…Ôi lạ quá! mỗi tuần trăng viển phố

Giữa đêm trường nghe tiếng quốc râm rang

Kiếp ai xưa còn nhớ thương đất Tổ

Tưởng như người đang rên rỉ than van…

Quang vổ vai Phương:

-          Sao bạn rành mấy vụ nầy vậy?

-          Rảnh cái nỗi gì! Tôi chỉ đọc lạng quạng đâu đó!

Quang cười ngất vì Phương lặp lại câu nói của anh vừa nói.

Sau đó, “chúng mình hai đứa” tiếp tục chuyện trên trời dưới đất một đổi nữa thì tuyết ngưng rơi. Phương và Quang chia tay nhau ra về.

Đã gần 12 giờ khuya. Trên con đường tuyết phủ trắng xóa, chỉ còn vài bóng người lưa thưa. Những giọt tuyết còn rơi lớt phớt ở lưng trời như những bông phấn dật dờ trong ánh đèn đêm. Từng cơn gió rét mùa đông xứ người như những làn roi giá buốt quật vào người Phương xơ xác.

 

Đêm hôm đó Phương ngũ mê vì men rượu. Trong giấc mơ, anh thấy mình ra phi trường để đáp phi cơ về quê thăm nhà. Phương không biết phi truờng đó là phi trường nào nữa.

Chưa hết ngạc nhiên. Phương mua giấy đi máy bay Boeing 777 mà sao anh lại leo lên một chiếc C130. Phương thắc mắc: “Tại sao mình phải đi máy bay nầy?”.

Còn đang ngạc nhiên, Phương nhìn ra cửa sổ máy bay, bổng thấy chong chóng bên phải của chiếc C130 đang bị cháy. Anh thấy những ánh lữa hồng đang nhãy qua múa lại, lúc chậm lúc nhanh, lúc nhiều lúc ít, lúc phà lên lúc phập xuống theo nhịp điệu hơi khác thường của bài nhạc mà anh đang nghe hát trên máy bay.

Trong cảnh chết sống như vậy, Phương nhìn chung quanh thấy hành khách không ai lo ngại gì cả. Mấy cô tiếp viên hàng không đi tới đi lui với gương mặt son phấn trắng đỏ, miệng cười tươi, tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra. Thấy vậy, anh nghĩ :“Ai sao mình vậy! Mắc mớ gì mà mình phải lo, phải sợ!”.

Chuyện lạ hơn nữa là mặc dù lữa đang cháy ở chong chóng phía bên phải, nhưng chiếc C130 vẩn cất cánh.

Chiếc máy bay C130 khổng lồ hùng hổ, gầm thét, phóng nước đại. Thình lình Phương có cảm tưởng như chíếc máy bay chạy lạc ra khỏi ngoài phi đạo. Nó nhãy lên nhãy xuống trên mặt cỏ gập ghềnh, lồi lõm với tốc lực cất cánh nhanh kinh khủng.  Phương thấy mọi vật trước mắt đang nhãy múa, nghiêng qua ngã lại. Anh   nắm chặc hai tay ghế ngồi với hồn phi phách tán.

Rồi bổng nhiên, nó ngừng lại như con ngựa bị giựt cương. Nó gầm gừ chạy trở lên lại mặt đường phi đạo, rồi đứng yên một chỗ.

Phương nhìn về phía phòng lái. Anh bổng thấy một anh phi công mang lon Trung úy từ trong phòng lái mỡ cửa bước ra. Anh ta tiến lại chổ Phương ngồi với gương mặt xanh lè. Anh ta đứng lại trước Phương, khum xuống, nhõ nhẹ:

-          Xin lỗi anh nghe anh! Anh làm ơn đừng làm báo cáo. Tôi bậy quá! Tôi sẽ làm lại và sẽ kỹ lần nầy! Chắc chắn nó sẽ Okay!

Phương không biết chuyện gì xảy ta. Anh nhìn anh chàng trung úy châm bẩm mà đầu óc cứ ngu ngơ.

Anh trung úy trở lại phòng lái. Chiếc máy bay rồ máy ầm ỉ, chạy ào ào và cất cánh êm xuôi. Chiếc C130 chở Phương bay thiệt là êm. Anh có cảm giác nó đang bay trên những đám bông gòn.

Bây giờ Phương mới bắt đầu quan sát chung quanh mình. Phương nhìn sang bên cạnh thì thấy một đại úy mặc quần áo dù đang đọc báo, ngồi dựa ngữa. Anh nhìn kỹ coi ai. Thì ra đó là đại úy Dũng, một người bạn cùng phục vụ chung một đơn vị ngày xưa.

Anh chàng Dũng mặt mày  vẩn trẻ trung, đẹp trai như ngày nào. Thấy Phương nhìn, đại úy Dũng mĩm cười, đưa một tay lên vẩy qua vẩy lại:

-          Khỏe hả?

Phương cười, trả lời:

-          Khi vầy khi khác!

-          Hôm nào tôi qua thăm anh

-          Cứ qua!

-          Lúc nầy thất cơ lơ vận quá!. Tôi phải qua để xin bạn một bát cơm Xiếu Mẫu cho đở lòng.

-          Thời nay làm gì có chuyện “bát cơm Xiếu Mẫu”!

-          Tôi van xin bạn mà!

-          Đừng giỡn chơi! Nếu bạn là Hàn Tín thì tôi còn xét lại. Còn bây giờ bạn  như Thái Thượng Lão Quân! Chính tôi là người sẽ đến khẩn cầu bạn cho vài viên thần dược cải lảo hoàn đồng, để tôi còn dịp “cua” đươc một “bồ nhí” trên con đường “Sunset Boulevard” nầy! Đó là chuyện có thể có. Còn chuyện bát cơm Xiếu Mẫu chắc là không tưởng rồi!

Phương không nghe Dũng trả vốn trả lời gì cả. Anh chỉ nghe tiếng cười the thé của Dũng xa dần, xa dần, rồi tắt mất., mà không thấy mặt mày của chàng ta đâu cả.

Kế đó, Phương nhìn qua phía dãy ghế bên kia. Anh thấy có một số anh em cùng phục vụ ở đơn vị củ ngày xưa. Không ai nói chuyện với ai. Anh nào anh nấy trên tay cũng cầm một chai Budweiser.

Phương thấy thượng sĩ Hà, một quân nhân quê miền Trung từ tiểu đoàn 6 nhãy dù  đổi về, đã từng đánh giặc theo kiểu điếc không sợ súng. Ông Hà từ dãy ghế bên kia đưa tay lên trán chào Phương theo kiểu nhà binh. Rồi ông cầm chai Budweiser đưa qua cho Phương mà không nói không rằng.

Phương nhớ rỏ thượng sĩ Hà làm việc rất ngon lành. Phương giao cho ông ta làm việc gì là việc đó được làm đến nơi đến chốn.

Ông Hà rất biết kính nễ cấp trên, luôn luôn xử sự đúng theo quân kỷ mặc dù đôi khi không đồng ý với cấp chỉ huy. Thượng sĩ Hà không giống vài quân nhân khác, khi được ông lớn thương thì lại có thái độ coi thường ông nhõ.

Phương nhớ có một buổi sáng, Phương vô văn phòng làm việc. Theo thường lệ, anh kéo học tủ ra để lấy giấy tờ ra. Phương ngạc nhiên thấy một cái bao thơ trắng dày cộm, bên ngoài có tuồng chử viết tay quen quen “Kính gửi trung úy Phương”.

Phương vội mở bao thơ ra. Anh lại càng ngạc nhiên hơn nữa: Trong bao thơ là một xấp tiền giấy 500 đồng Trần Hưng Đạo và một miếng giấy trắng cở phân nữa tờ giấy học trò có mấy chử vỏn vẹn “Tặng trung úy Phương. Trung úy lấy cho tôi vui.! Thượng sĩ Hà”.

Cầm xấp tiền dày cộm, Phương tự nhiên thấy đầu óc mình như bị lùng bùng. Anh đếm hết xấp tiền thì thấy tất cả là 7,000 đồng.

Phương bỏ 7,000 đồng lại vô bao thơ. Anh châu mày, im lặng ngồi nghĩ ngợi. Phương không hiểu tại sao khi không ông Hà cho mình một số tiền lớn và ông làm gì có tiền nhiều như vậy. Mình là một sĩ quan khố rách áo ôm. Bảy ngàn đồng gần bằng tiền lương một tháng của một trung úy một vợ ba con lúc bấy giờ. Kiếm được một số tiền 7,000 đồng trong thời buổi củi quế gạo châu nầy không phải là chuyện chơi chơi.   

Tuy nhiên, sau vài giây phút nghĩ ngợi, Phương đã có quyết định. Anh lấy bao thơ tiền cất vào học tủ. Anh cho tùy phái gọi thượng sĩ Hà vô văn phòng.

Sau khi chào Phương, thượng sĩ Hà đứng nhìn Phương với cặp mắt láo lơ không biết chuyện gì:

-          Dạ có gì không Trung úy?

Phương lấy bao thơ trong học tủ ra để lên bàn, chậm rải:

-          Ông Hà! Có phải bao thơ nầy của ông không?

Thượng sĩ Hà có vẻ hơi lo âu:

-          Dạ phải!

-          Tại sao ông làm như vậy?

-          Dạ!...Dạ!...Tôi biết trung úy nghèo, nên muốn giúp trung úy chút đỉnh!

Giọng nói của thượng sĩ Hà gần như thì thào vừa lớn đủ để Phương nghe. Nghe thượng sĩ Hà nói, Phương thấy tội nghiệp ông Hà vì anh không ngờ ông Hà có lòng tốt đối với anh như vậy. Phương cũng giữ giọng nói thấp xuống, sợ anh tùy phái ngồi bên ngoài nghe được chuyện gì đang xảy ra trong phòng:

-          Ông Hà! Tôi cảm ơn ông nhiều lắm! Tôi rất cảm động thấy ông tốt với tôi như vậy. Nhưng có gì ông chắc chắn tôi sẽ lấy số tiền nầy để ông ngang nhiên bỏ bao thơ tiền vô học tủ của tôi như vậy?

Phương thấy sắc mặt của thượng sĩ Hà trở nên bối rối. Anh nghĩ có lẽ ông Hà tưởng trung úy Phương gọi mình vô văn phòng để cám ơn. Chớ ông đâu có ngờ chuyện xảy ra tréo cẳng ngổng như vầy. Tự nhiên anh thấy thương ông. Ông Hà đứng im, nhìn Phương chờ đợi. Giọng Phương trở nên nhẹ nhàng:

-          Tôi không biết ông đã làm gì để có nhiều tiền như vậy. Nhưng tôi biết ông kiếm được số tiền nầy không phải dễ dàng.Vợ con của ông là những người phải được hưởng số tiền nầy dù nó hợp pháp hay không hợp pháp. Ông lấy lại số tiền nầy đem về cho vợ con của ông, nghe ông Hà!

-          Dạ…Dạ…

-          Ông Hà à! Tôi rất cám ơn ông. Nhưng tôi không nhận số tiền nầy đâu! Ông hảy cầm số tiền nầy về cho vợ con ông!  Ông đừng “Dạ, Dạ” gì nữa!

Nói xong, Phương lấy bao thơ đựng tiền, đứng dậy đưa cho thượng sĩ Hà. Ông Hà đành nhận lại bao thơ. Ông vừa thọt nhanh bao thơ đựng 7,000 đồng vào túi vừa nói nhõ:

-          Cám ơn trung úy!

-          Thôi ông ra ngoài đi ông Hà!

Ông chào Phương và bước nhanh ra ngoài. Phương nhìn theo thượng sĩ Hà khuất dạng sau cánh cửa sổ. Anh cảm thấy có một sự thỏa mãn êm ái len nhẹ vào tâm hồn.

Trong khi trong đầu Phương xà quần hết chuyện lạ nầy đến chuyện kỳ cục khác, chiếc C130 bay lờ lờ, lững lững, nhè nhẹ, như bay trên bông gòn.

 

Phương ra khỏi phi trường Tân sơn Nhứt. Anh thấy vừa hồi hộp vừa mừng vui cho cảnh “người xưa quê lạ”. Trong cái cảm giác sung sướng tột cùng, Phương thấy mình đang chạy bộ về hướng nhà mình, nhưng anh cũng không biết hướng nhà mình là hướng nào!.

Phương chạy trên đường Phan Thanh Giãn, ngang một ngôi trường to lớn quen quen. Anh dừng chân lại nhìn thì thấy đó là trường nữ Trung học Gia Long.  Lúc nầy là đang buổi trưa hè. Hoa phượng vỉ trong sân trường đang nở  rộ đỏ trời, sặc sở, huy hoàng.

Sau đó, Phương chạy qua đường Lê Văn Duyệt, đường Lý Thái Tổ, ngang qua Viện Hóa Đạo. Đang chạy đến một chỗ nào đó, Phương bổng nghe giọng nói của ai bên tai, một giọng nói mật ngọt:

-          Chú ăn mía ghim không chú?

Phương giật mình ngừng chạy coi ai đang mời mình mua mía ghim vậy.. Phương thấy một người phụ nữ tuổi cở trung niên, mặt mày còn dịu dàng thu hút. Người phụ nữ trung niên nầy đang bưng một rổ mía ghim đầy ấp.

Phương trố mắt nhìn người phụ nữ trung niên. Thì ra đó là cô Huyền.  Anh nói trong đầu: “ Cô Huyền hồi trước là giáo sư Pháp văn của mình mà! Sao cô lại bỏ nghề dạy học để đi bán mía ghim ngoài đường như vầy!”.

Anh nhớ cô Huyền ngày xưa là con của ông quận trưởng châu thành X. Nghe người ta nói: Cô từng du học bên Pháp, tốt nghiệp bằng cấp của nước Pháp cao lắm. Cô nói tiếng Tây như lặt rau.

Lúc cô còn dạy ở trường trung học X, cô thường dẫn theo một con chó berger. Trong khi cô giãng bài thì con chó berger nằm rung đùi dưới bàn.

Cô Huyền là một nữ giáo sư trẻ nhất trường lúc bấy giờ. Cô học bên Tây nên cách ăn mặc của cô thật thời trang và có những cử chỉ lúc nói chuyện rất giống kiểu Tây.

Phương nhớ có khi giãng hết bài sớm, cô Huyền hay kể chuyện phim nầy phim nọ, tài tử nầy tài tử kia cho học trò nghe. Cô rất thích tài tử Pat Boone hát bài Lover Letters In The Sand. Phương nhớ giọng hát của cô cũng không đến nỗi nào.  Lần đó, cô hát vài câu cho cả lớp nghe bài nầy:

On the day like today

We passed the time away

Writing love letters in the sand

Have you laughed when I cried

Each time I saw the tide

Take out love letters from the sand…

(Tạm dịch)

Có ngày cũng giống hôm nay

Có ta đôi bóng theo ngày lang thang

Viết lên bải cát mơ vàng

Tình thơ ân ái chứa chan trọn đời

Mỗi lần nước cuốn thơ trôi

 Em cười tôi khóc cho đời vở tan

Cô rất sùng bái nhà triết học Pháp Jean Paul Sartre. Lúc bấy giờ đám học trò trong lớp có biết Jean Paul Sartre là ai đâu!.  Đám học trò mới có Đệ lục, Đệ ngũ, ngồi nghe cô nói chuyện thâm sâu như vịt nghe sấm.

Sau nầy lớn lên được học hai ba chử, Phương mới biết ra Jean Paul Sartre là một triết gia Pháp nỗi tiếng với chủ nghĩa hiện sinh. Ông là một trong những đệ tử của chủ nghĩa hiện sinh vô thần do Friederich Nietzche khai sinh.

Với Sartre, hiện sinh là một sự tồn tại. Sự tồn tại nầy không giống như sự tồn tại vật thể của vũ trụ, nhưng là sự tồn tại của một con người trong vũ trụ ý thức được sự hiện hửu, sự tồn tại của chính mình. Theo Sartre, trên trái đất nầy không có một ý nghĩa cuộc đời nào đã được tạo sẳn. Ý nghĩa cuộc đời chúng ta do chính ta tạo nên. Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng con người là một hửu thể độc đáo trên vũ trụ, có quyền lực quyết định giá trị của mình tùy theo quan điểm của mỗi người trong hoàn cảnh và môi trường chung quanh.

Con người chỉ nên trung thành với cái TÔI không đáng ghét và không tin bất cứ hứa hẹn gì của ai từ bên kia thế giới khác.

Sartre cho rằng cuộc sống thực tại của con người không có gì liên quan với Thượng Đế. Cứu cánh đạo đức duy sử tôn giáo bất biến đối với Sartre là một không tưởng. Con người không phải là hiện thể được sáng tạo bởi bất cứ quyền lực tối cao nào và phải được tự do để sáng tạo để được tồn tại.

Đối với phái chủ nghĩa hiện sinh vô thần mà Sartre là một đại diện, Thượng Đế kể như không có. Thượng Đế là một đấng vô hình đã chết.

Sartre chán ngán cuộc đời phi lý, bị gò bó với đạo đức từ đạo giáo. Sartre muốn đi tìm một lối thoát cho tâm linh và sự sống của con người với một chủ nghĩa hiện sinh ngã theo phe vô thần.

Điều hay và lẽ dỡ của trường phái theo chủ nghĩa hiện sinh vô thần mà Sartre là một đại diện hửu danh trong triết học không đơn giãn để mỗ xẻ một cách ngắn gọn trong phút giây.

Phương đứng nhìn cô Huyền như trời trồng với ký ức lặng lẽ quay về và đầu óc bị chìm sâu trong nghĩ ngợi. Cô Huyền cũng đứng nhìn Phương. Thấy Phương im lặng không nói gì, cô cũng không nói không rằng. Sau một hồi lâu, cô Huyền chậm rải hỏi:

-          Em có phải là trò Phương đó không? Làm gì nhìn tôi như ốc mượn hồn vậy?

Phương nhìn rổ mía ghim trên tay cô Huyền,  vừa lúng túng vừa ấp úng:

-          Thưa cô! Dạ phải! Sao cô bây giờ…đi bán mía ghim như thế nầy?

Cô Huyền nhoẽn miệng cười, nhưng Phương thấy miệng cô không còn có màu son đỏ chót như năm xưa:

-          Bây giờ ai cũng phải làm đũ mọi thứ nghề để có được miếng ăn đó, em ơi!. Thôi! Cô  còn đi bán nghe em! Bái-bai!”

Cô Huyền đưa tay vẩy chào Phương, rồi biến nhanh đâu mất trong khi Phương chưa chuyện trò, tâm sự điều gì với cô.

Anh lắc đầu và lại tiếp tục co giò chạy. Phương chạy ngang qua hảng la-ve La Rue trên đường Nhân Vị. Mùi của men ruợu la-ve thơm thơm một cách kỳ lạ, làm Phương thấy người như lâng lâng, như ngây ngây.

Anh nhớ ở đường Nguyễn Kim có quán nhậu Năm Bông chuyên bán la-ve hơi. Có những buổi chiều nắng đẹp, Phương và vài bạn bè đến đây thưởng thức rượu ngon, cảnh  vật hửu tình.

Nói là cảnh hửu tình cho nó có vẻ nên thơ trong “cuộc nhậu”. Chớ làm gì nơi đây có được cái cảnh trăng thanh, gió mát, có được vườn ruộng, trúc tre, hoa thơm, suối chảy, chim kêu!

Nếu ở đây có được như vậy, thì trên con đường chiều nắng nhạt với cảnh đời bon chen, chụp giựt, đầy hỏa mù nầy, người phiêu-nhiên, chắc chắn sẽ chọn:

Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ;

Người khôn, người đến chốn xôn xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

(Cảnh Nhàn – Bạch Vân Quốc Ngữ Thi - Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Phương vừa nghĩ trong đầu vừa chạy ngang một căn nhà mà anh thấy quen thuộc quá. Anh quay đầu chạy trở lại để coi căn nhà đó của ai. Anh đứng nhìn kỹ lại căn nhà đó một hồi. Thì ra căn nhà đó là nhà của mình. Anh mừng không sao tả hết.

Phương bước vô, gỏ cửa gấp rút. Anh không nghe ai lên tiếng cả. Anh gỏ vài lần nữa. Vẩn không có tiếng ai trả lời.

Thấy cửa không khóa, anh đẩy đại để đi vào nhà. Bên trong  chỉ có ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu để trên một cái bàn nhõ ở giữa nhà. Phương nhìn chung quanh. Phòng khách trong căn nhà trống trơn, không có dồ đạc gì cả.

Anh cất tiếng gọi tên của vợ:

-          Nguyệt ơi! Nguyệt ơi!

Im lặng. Không có tiếng trả lời. Phương đi tới đi lui, vừa gọi tên vợ nữa:

-          Nguyệt ơi! Nguyệt ơi!

Vẩn không có tiếng trả lời. Ngọn đèn dầu leo lét, phất qua phất lại theo gió thổi từ đâu xuyên qua cửa sổ, làm căn nhà thành một cảnh như trong liêu trai chí dị.

Phương đi vô phòng của vợ chồng anh. Anh thấy mọi thứ trong phòng cũng còn y nguyên như cũ. Chiếc giường đôi bằng mi-ca vẩn nằm ở giữa phòng. Cái tủ đựng sách của Mỹ mà anh mua ở chợ trời ngày nào vẩn còn để ở góc phòng. Cái tủ kiến bằng mi-ca cũng nằm bên đầu giường như xưa.

Bên cạnh đó, Phương thấy một khuôn lộng  hình của anh và Nguyệt chụp chung nằm trên một cái bàn cây cũ kỹ. Một cây lược bằng ny-lon màu vàng và mấy cây kẹp tóc của vợ mình nằm gần đó.

Lòng Phương quá đau đớn, xốn xang. Bất cứ cái gì của Nguyệt giờ đây cũng giống như hình bóng yêu dấu của người vợ cả đời hy sinh cho chồng con của mình.

Anh cầm lên tấm hình mình và người vợ yêu dấu chụp chung nhau ngày nào. Phương nhìn gương mặt hiền từ của người vợ đã từng chia

ngọt xẻ bùi với mình trong cuộc đời, nhất là trong những năm dài sau ngày nước non chìm sâu vào cỏi điêu linh.

Nước mắt Phương rưng rưng lúc nào anh không hay. Anh để tấm hình xuống. Anh thấy hồn mình bay bổng về đâu, vẩn vơ với đầy tê tái, xót xa.

Phương thẩn thơ bước ra sau vườn như người có xác không hồn. Anh đưa mắt nhìn ra cuối vườn. Phương bổng thấy Nguyệt, vợ mình, đang đứng yên lặng như một tượng hình bất động. Lòng anh mừng vô kể. Phương chạy nhanh về phía Nguyệt.  

Anh vừa chạy vừa gọi tên Nguyệt thật to:

-          Nguyệt! Nguyệt!

Nguyệt không quay lại, trơ trơ, như không nghe tiếng kêu của Phương.

-          Nguyệt! Nguyệt!

Phương chạy đến ôm chầm lấy Nguyệt vừa gọi tên vợ mình. Nước mắt anh ràn rụa. Nguyệt, người vợ hiền của Phương, cũng ôm lấy chồng. Đôi mắt của nàng u buồn như một đêm không trăng sao.

Nguyệt gục đầu lên vai Phương nức nỡ nhưng không nói một lời. Thình lình, với đôi mắt đầy lệ, Nguyệt gở hai tay Phương ra. Nàng chạy nhanh vô nhà.

Phương đuổi theo. Anh nhìn qua nhìn laị kiếm Nguyệt, nhưng không thấy Nguyệt ở đâu cả! Anh chạy đi tìm Nguyệt khắp nơi trong nhà, nhưng hình bóng của người vợ hiền đã biến mất đi đâu!

Phương gọi lớn tên Nguyệt:

-          Nguyệt! Nguyệt!

Anh đi từ trước ra sau, miệng kêu tên vợ mình:

-          Nguyệt! Nguyệt!

Anh đi từ trong ra ngoài, tiếp tục kêu tên vợ như gàu thét::

-          Nguyệt ơi! Nguyệt ơi!

Vẩn không có một một tiếng trả lời ngoài tiếng kêu của Phương vang dội giữa đêm khuya.

Phương lão đảo và ngồi sụp xuống sàn nhà. Anh ôm đầu đau khổ, lẩm bẩm một mình:” Trời ơi! Vượt ngàn dậm xa xôi trở về đây, anh mong gặp lại em. Mà giờ đây, em đã đi đâu rồi? Em nỡ nào bỏ anh vậy sao Nguyệt? Nguyệt ơi!...”.

 

Phương hải hùng. Nước mắt anh trào ra. Tim Phương dường như bị ai cắt đi. Anh tiếp tục gọi tên vợ:

-          Nguyệt! Nguyệt!

Phương gọi như vậy lâu lắm. Bổng Phương thấy ai lắt mạnh vai mình. Anh nghe có tiếng ai kêu văng vẳng bên tai:

-          Anh! Anh!

Phương nghe tiếng Nguyệt, vợ anh. Anh ráng mỡ mắt ra, nhưng không được. Phương lại tiếp tục khóc.

-          Anh! Anh!

Nguyệt tiếp tục lắt vai Phương và kêu thêm mấy lần nữa.

Phương giựt mình, tỉnh dậy . Anh mỡ mắt ra,  thấy mình đang nằm trên giường ngũ. Tim Phương còn đập mạnh trong lòng ngực. Anh còn thở hổn hển. Anh thấy Nguyệt  đang ngồi kế bên. Tiếng Nguyệt dịu hiền:

-          Anh ngũ mê thấy gì mà  la dữ vậy?

-          Đâu có thấy gì đâu! Anh thấy về Việt Nam!

-          Trời ơi! Sao đầu anh đổ mồ hôi dữ thế nầy?

Nguyệt vừa nói vừa vói tay rút hai tấm giấy kleenex lau lên trán Phương:

-          Thấy về Việt Nam mà làm gì anh lại kêu la dữ vậy?

Phương thở lại được như bình thường. Anh nhìn Nguyệt mĩm cười:

-          Anh nằm chiêm bao thấy vòng vo tam-quốc, hết chuyện nầy qua chuyện khác! Anh thấy hồi anh và gia đình còn xa nhau. Anh thấy anh về kiếm em và các con. Anh gặp được em, nhưng bổng nhiên em biến đâu mất. Anh sợ mất em nên kêu tên em  lớn trong giấc mơ như vậy. Chuyện dài dòng văn tự lắm! Đề sáng anh kể lại cho em nghe!

Nguyệt bóp nhẹ hai bàn tay của Phương. Nàng cười nhõ và đùa:

-          Thiệt vậy không? Hay là anh mơ về  kiếm cô nào đó?

Nàng hôn lên má Phương và áp má mình lên má của chàng. Phương cảm giác được hơi ấm nóng từ người Nguyệt đi vào da thịt mình.

Phương cảm thấy như mình đang bay trên bông gòn. Anh ôm chặt lấy vợ như ôm lấy một bảo vật vô giá trên đời. .

 

Nam Thảo    

Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved