Du Ca Việt Nam

Bài thơ Cúng Dường


Thượng tọa Tuệ Sỹ làm rất nhiều thơ nhưng thường chỉ lưu lại bản thảo . Phải sau 1 thời gian có nhân duyên những bài thơ mới được thu thập lại và in thành tập thơ để phổ biến rộng rãi. Lần đầu tiên tôi đọc được thơ của T.T Tuệ Sỹ là khi tập thơ " Giấc mơ Trường sơn " được phổ biến trên tạp chí, trên internet ra các nước, đặc biệt tại Úc với buổi lễ ra mắt long trọng trong cộng đồng VN.

Ngoài tập thơ này, trong bài viết giới thiệu tác giả, tác phẩm có nhắc đến 1 thi phẩm khác của Thầy Tuệ Sỹ. Đó là thi tập "Ngục Trung Mị Ngữ" , Quảng Hương Tùng Thư xuất bản. Ni cô Tuệ Hạnh đã thu nhặt , gom 1 số những bài thơ Thầy Tuệ Sỹ làm trong thời gian bị giam cầm trong ngục tù CS . Với thi tập nầy, thơ Thầy làm hầu hết là bằng chữ Hán. Có người sau khi xem thi tập đã nhận xét cảm động nhất là bài thơ Cúng Dường.
Cúng Dường , bài thơ  được làm trong những năm tháng giữa ngục tù CS . Bài thơ vỏn vẹn chỉ 4 câu, mang sự nhẫn nhịn chịu đựng và tâm từ bi rộng lớn nhìn thế gian đầy những tranh chấp trong hận thù, máu lệ. Hình ảnh 1 người tù với 1 bát cơm hẫm dâng lên Đấng từ bi , nước mắt rơi, không lời tả xiết sự thương cảm cho người, cho thế gian vô minh hãy còn nhiều hơn cho bản thân mình .

    Cúng Dường:

           Phụng thử ngục tù phạn

           Cúng dường Tối Thắng Tôn

           Thế gian trường huyết hận

           Bỉnh bát lệ vô ngôn.

           (Thượng Tọa Tuệ Sỹ)

  Thượng Tọa  Viên Lý đã chuyển dịch bài thơ chữ Hán khéo léo sang 4 câu thơ lục bát rất súc tích :

Cúng Dường

Hai tay nâng chén cơm tù

Dâng lên từ phụ bậc thầy nhân thiên

Thế gian huyết hận triền miên

Bưng bình cơm độn lặng yên lệ trào

 (Thượng Tọa Viên Lý dịch )

 Cảm động những lời thơ của quí Thượng tọa, AnNaDa với lòng thành đơn sơ đã cảm hứng làm tiếp theo vài câu thơ lục bát cho bài Cúng dường  :

Bơ vơ, những phút nghẹn ngào

Thân, tâm phiên não, dựa vào Từ Bi      

Thế nhân tham, hận , sân ,si                          

Con tìm an lạc, niệm trì hồng danh                            

Đơn sơ, chỉ  tấm lòng thành

Phong ba, cố  giữ tâm lành thuần lương

Qui về chư Phật mười phương

Theo đường Phước Huệ , cúng dường Thế Tôn

 AnNaDa  (xin tiếp theo lời thơ )

A.  gửi tới tôi bài thơ  và có ý nhờ xem có thể phỏng dịch bài nếu có cảm hứng... Đối với 1 người mà sự hiểu biết về Phật học có lẻ  "căn bãn " nhờ  vào quyển Tây Du Ký  bằng tranh hồi nhỏ say mê xem và bị lôi cuốn thích thú như bao nhiêu người khác , sau naỳ có dịp xem thêm phim truyện Tây Du Ký , hậu Tây Du Ký  bổ túc kiến thức (!)  thì việc dịch thử thơ không dễ  ..  Lần đầu trong dịp lễ, tết đến chùa nghe thoáng qua từ cúng dường cứ tưởng là cúng đường  (cúng đóng góp để sửa sang đường xá  !) . Có lần nhà thơ D.H.A, người sáng lập thi đàn Lạc Việt ( Mỹ) và cũng từng viết vài sách nghiên cứu Phật học bảo tôi thử dịch sang anh ngữ những bài thơ phảng phất tư tưởng Phật học của Bác khi rãnh. Nhưng ngay cả những từ như sát na, sa bà thật sự là gì còn chưa biết rõ, dù Bác thường khuyến khích cũng không dám nhận vì khả năng hạn hẹp và thêm nữa không hiểu, dịch thoát sẽ mất hay ý chánh của nguyên văn. Bài thơ niêm luật, loại văn vần lại phải dịch có vẻ thơ, vần nhau và ngại nhất là dịch thơ của nhà thơ lão thành có tên, tuổi. Nhưng với lời thơ chân thành của bài Cúng Dường này đã gây tôi  cảm xúc để tìm hiểu  , thử phỏng dịch  sang anh ngữ . Thế xem như có duyên , có dịp để tra cứu, được học hỏi  vậy  …

Xin  được tạm chuyển dịch lời thơ của quí Thượng tọa và  A . sau :

Making offerings

One bowl of rationed rice received in prison

To the World-Honoured One, I reverently sacrifice

Bloody enmity in the world continues with no reason !

In tears, I speechlessly offer the mixed rice

When body, mind in pains, in times of vexation

I wholly rely on Loving kindness, Compassion

The world full of hatred, ignorance, greediness

Reciting the Buddhas’ names, I find peace and happiness

Simple with a truthful heart looking for perfection

That I’ve tried to keep through trials, sufferings

I humbly revert to the Buddhas in ten directions,

Follow the way of Blessedness, Wisdom as offerings

TyNa translated 

(from the verses by the venerable T.Tue sy, the venerable T.Vien ly and AnNaDa)

 Cúng dường nói trại từ chữ cung dưỡng . Có người cho là đi từ  2 chữ cung cấp và nuôi dưỡng , chẳng hạn trong nghĩa cung dưỡng cha mẹ nhưng cúng dường thì được dùng hàm nghĩa kính trọng đặc biệt , sâu cao hơn . Cũng có thể hiểu rộng như nghĩa bố thí ( cho , được dùng 1 cách khiêm cung từ các tu sĩ đi khất thực ) nhưng với tâm cung kính, quí trọng.

 Cúng dường có thể kể 2 loại tài ( vật chất )  và pháp ( tinh thần ). Đơn giãn , dễ thấy là việc  dâng mọi thứ từ thức ăn , vật dụng thuốc men , quần áo,  hương đèn , hoa quả , chỗ an nghĩ .. đến các tu sĩ và về tinh thần như việc dịch kinh sách , ấn tống ( phát hành sách  ) và nói , giới thiệu về đời sống , tinh thần Phật pháp  hay những sắp xếp giúp đỡ các công việc Phật sự... Mọi hình thức công quả đều là cách cúng dường. Nói chung mọi hình thức dâng cúng cung cấp  từ vật chất đến tinh thần đến Tam Bảo ( The  3 Jewels - 3 điều quí báu : Phật , Pháp , Tăng ) để nuôi dưỡng thân tâm an vui, hướng thượng 

Đạo Phật căn bãn xem mọi việc đều có nhân , có quả . Rất logic , kết quả thế nào cũng đi từ nguyên nhân ra .. Nắm , chi phối  được nguyên nhân sẽ được kết quả theo ý.

 Thời Đức Phật , các đệ tử Phật và chính Đức Phật  đi từng nhà  khất thực, fhực hành chính bản thân thanh tịnh , đơn sơ không đòi hỏi  ăn ngon , mặc đẹp có gì dùng đây , không dễ bị dính dáng đến đời sống tranh chấp của thế gian ( 1 trong dính líu , chung đụng nhiều đến thế gian nhất dĩ nhiên là việc sinh nhai, làm ăn  ) và chính yếu để gieo duyên với quần chúng . Nhân được bố thí thì lấy đó làm cơ hội giảng dạy lời Phật để độ mọi người  . 

 Nói rõ thêm , Phật dạy quí tu sĩ tu tâm thân thanh tịnh là phước điền , ruộng phước để gieo những nhân tốt lành . Lợi ích của việc cúng dường thì nhiều lúc không tưởng tượng nỗi . Cúng dường công đức được lợi ích tối đa khi người cúng dường  và vị được cúng dường  đều có  tâm lành , thanh tịnh .Câu chuyện của Mục kiều Liên là 1 thí dụ .

Dù không là Phật tử , nhưng hẳn ai cũng nghe đến chuyện rằm tháng 7 , lễ Vu lan ngài Mục Kiều Liên đệ tử thần thông bậc nhất của Phật thích ca ...  xuống địa ngục cứu mẹ  . Ngài MKL có được thần thông đặc biệt nhờ nguyên nhân là trong kiếp xưa , MKL có duyên gặp 1 vị tăng sĩ và đã vá áo cho vị này , không biết đây là 1 vị đã tu chứng quả  Bích chi Phật và đầy thần thông quãng đại . Nhờ công Đức cúng dường vá áo này mà MKL giờ đặc biệt phát triễn tài biến hoá  thần thông bậc nhất thời ấỵ

Tóm lại , 1 hạt giống nhỏ dường rất tầm thường mà gieo trúng vào đất tốt , mầu mỡ thì sanh cây quả xum xuê  không ngờ .

Lời thơ mang ảnh hưởng của Phật giáo Bắc tông Đại thừa (  Mahayana Buđhism  , cổ xe lớn ) . Phật giáo Nam tông hay  Nguyên thủy  (Theravada Buđhism  , còn gọi là Tiểu thừa  -cổ xe nhỏ ) biết chính yếu Phật  thích Ca  vị thầy chỉ ngón tay , chỉ đường thanh tịnh cho mình giải thoát những tham sân si bằng cách tự mình sống thanh tịnh lìa bỏ mê hoặc  thế gian  , diệt trừ tam độc . Tham muốn , hận thù tức giận , và  sự vô minh ngu si không hiểu biết  là  3 món độc - nguồn gốc của mọi hệ  lụy đau khổ , sanh tử ...  

Tiến tới Đại thừa thì phong phú hơn . Phật giáo Đại thừa là trùng trùng những cõi Phật an lạc (Tịnh độ ),  không phải chỉ hình ảnh 1 Phật  thích Ca mà cả 10 phương chư Phật, 10 phương chư Bồ tát và 10 phương tăng .. cũng như thường nghe trong lễ Vu lan ngài MKL được Phật  thích Ca chỉ dạy phải nhờ thêm công đức của 10 phương tăng mới cứu mẹ khỏi  nơi địa ngục . Trở lại phim truyện Tây du ký , thì lúc biến thành 1 vị tăng già đem rao bán cà sa và tích trượng để bảo vua Đường cho Tam Tạng Huyền Trang đến Thiên trúc thỉnh kinh Đại thừa , Quan thế âm đã nhắc Đại thừa như là giáo pháp diệt mọi nạn , khổ , bệnh , tử …

Lần tôi để ý đặc biệt đến những danh từ này  (Theravada , Mahayana Buddism ) là 1 buổi trưa , xuống thư viện chổ làm việc , người quãn thủ Thư viện ông S. hỏi tôi có phải VN là  xứ ảnh hưởng Phật giáo Bắc tông Đại thừa  hay Tiểu thừa hay giống như Phật giáo Tây tạng ( Kim cang thừa , cũng là Đại thừa nhưng đòi  nhiều công phu , căn cơ hơn    ). Ông này đã vừa có dịp thử đi tập thiền theo Tây tạng , đọc sách thiền Zen Nhật bản ..  đặc biệt rất thích thú tìm hiểu tôn giáo , nhất là tôn giáo từ  Á châu nơi ông nghĩ rất sâu xa , kỳ bi’ ... Tôi chỉ có thể trả lời  theo suy luận tổng quát : Á  châu có 2 nền văn minh lớn Â’n  độ và Trung hoa .  Ảnh hưởng Trung hoa  lan rộng chính yếu các nước láng giềng  VN , Nhật , Đại hàn , Mông cổ  tây  vực   ..  Phật giáo Trung hoa là Đại thừa  vậy VN sẽ mang tính chất này và dĩ nhiên sẽ có những đặc điễm riêng theo phong thổ , dân tính xã hội xứ mình cũng như Nhật  ảnh hưởng Trung hoa nhưng có đặc sắc riêng của dân tộc họ . Và khi vào Net tìm hiểu thì thấy các học giả phân ra Bắc tông tập trung nơi những nước chịu ảnh hưởng Trung hoa như trên , và Nam tông nơi những nước Thái lan , Tích lan , Miến điện  ..  

Có dịp hỏi thầy trụ trì Vạn Hạnh , Thầy đề cập  sự khác biệt  về y  áo của  các vị  theo Tiểu thừa và vị theo Đại thừa mà có lẻ sẽ giúp nhận ra 2 Tông này khá nhanh chóng . Các vị tăng sĩ  Nam tông quấn áo cà sa chừa hỡ vai  bên phải ( như hình ảnh , tượng Phật  thích Ca)  trong khi các vị Bắc tông mặc áo tràng che kín vai , khoác thêm cà sa ( đấp y ) lên áo tràng , chừa vai phía phải ( như hình ảnh Đường tăng Tam tạng khoác áo cà sa trong Tây du ký  ! ) .

Chùa VN  mang cả 3 tính chất : Tịnh , Thiền , Mật , bao gồm cả  Tịnh độ ( niệm Phật  cầu vãng sinh Tây phương Tịnh độ) , Thiền ( meditation)  , Mật ( niệm mật chú  như   Tây tạng ) nhưng mật chú thông thường trong các nghi thức chứ không mạnh mẻ áp dụng như Mật tông Tây tạng . VN nói chung quả là phát triễn mạnh  Đại thừa Phật giáo , chứ không thuần là 1 quốc gia với Phật giáo Nguyên thủy là quốc giáo như Thái lan , Tích lan , Miến điện  .. nhưng thật ra  cũng có nhiều chùa VN  theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.

Về  mục tiêu tu của Tiểu thừa và  Đại thừa có thể đề cập đến 2 quả vị  ( tu  thành chánh quả)  sau : A la Hán  ( thoát luân hồi sinh tử , vào Niết bàn  - ) và Phật  ( phước huệ viên mãn , chẳng những  thoát luân hồi sinh tử chính mình mà còn tự tại  cứu độ muôn loài , và trước đó có giai đoạn tu hạnh Bồ Tát như  Quán Thế Âm Bồ Tát gần gũi , cứu độ  thế gian ) . Trong Tây du ký, đến khi thỉnh kinh xong Tam Tạng , Tề Thiên đã  thành Phật quả , và Sa Tăng đạt quả vị A La Hán  .

 Cô bé  trong bài thơ “ Đi chùa Hương “ cũng rành câu  "Nam mô A di-đà  " mà thẹn thùng không dám niệm lớn ra :

Thuyền đi, bến Đục qua,

Mỗi lúc gặp người ra,

Thẹn thùng em không nói :

"Nam mô A di đà !"

cho thấy  niệm trì hồng danh - ảnh hưởng Tịnh độ tông mạnh mẻ trong Phật giáo Đại thừa đã  ăn sâu cội rễ vào văn hoá VN . Mọi năm , ta lại nghe lễ Phật đãn kỷ niệm Phật  thích Ca đãn sanh nhưng  thường luôn nghe câu chào  : "Nam mô A di đà Phật “ ... bắt nguồn từ lời Phật  thích Ca dạy về pháp môn niệm Phật, 1 phương cách đặc biệt  dễ dàng tạo duyên lành , tạo công đức dựa vào lòng tín thành .Đó là chuyện hoàng hậu mẹ vua  A xà Thế , 1 ông vua sống trong thời Phật  thích Ca  đặc biệt nổi tiếng bạo ác giam , hại vua cha chết nhưng sau này chuyển lòng trở thành người xây dựng chùa chiền khắp nơi  Â’n độ. Hoàng hậu vào thăm chồng phải trét lên mình mật ong , thức ăn để nhà vua liếm đỡ đói  trong tù. Trong lúc bà đau khổ tuyệt vọng vì đứa con bất hiếu , Phật thích Ca đã giảng dạy về 1  cõi giới an lạc ở phương tây , dùng thần thông cho bà thấy Tây phương  cực lạc (cõi Cực kỳ  vui vẻ an Lạc) của  Phật A di Đà .

Đại thừa nhắc đến  10 phương chư Phật . Niệm Dược Sư Phật  ( Đông phương ) để cầu an , trị bệnh , Quan Thế Âm cứu khổ , nạn lúc nguy cấp  .., nhưng các Phật tử  thường cầu về Tây phương  khi  lâm chung  ( vãng sanh ) vì` Phật A di Đà  có lời nguyện cứu độ chúng sinh ở thế giới Ta bà ( trái đất này ) hầu như vô điều kiện , chỉ cần xưng danh ngài  thành tâm là được cứu ..  

Sau khi tôi cảm hứng  phỏng dịch  bài  thơ  Cúng Dường của Thầy Tuệ Sỹ thành dạng thơ  5 chữ ,  A . đã làm tiếp thêm vài đoạn thơ cho  " Bài Cúng Dường " như sau :

Bài Cúng Dường 

Bát cơm tù kính nâng

Cúng dường Đức Thế Tôn

Thế gian đầy máu hận

Lệ thay lời , dâng cơm

( TyNa phỏng dịch )
 

Sóng gió đời gian truân

Con nhờ ơn Thế Tôn

Thoát thương đau sầu hận

Ưu đàm nở hồn con   

Giữ  lòng lành kính dâng

Cúng dường Đức Thế Tôn

Trái tim không phiền, hận

Nguyện giữ  theo Phật ngôn

Thế gian nhiều  tranh phân

Nương nhờ ơn Thế Tôn

Biển phước vô cùng tận

Bao trùm khắp càn khôn

Giữ tâm lành báo ân

Cúng dường Tối Thắng Tôn .

AnNaDa  ( tiếp  lời thơ )

Trong bài có chữ Ưu đàm , 1 từ phật học trong kinh Phật có nghĩa 1 loại cây (Ficus glomerula ) ,  được tương truyền chỉ có trái mà không thấy hoa. Cứ mỗi 3000 năm mới trổ hoa . Rất hiếm thấy , mỗi khi hoa nở là điềm ứng sự xuất hiện của 1 vị Phật ,  1 bậc giác ngộ , phước huệ viên mãn  . Khi hoa nở là điềm lành , tốt đẹp   .

Trong bài Thầy Tuệ Sỹ nguyên văn cúng dường Tối Thắng Tôn , bài dịch của T.T Viên Lý dùng từ  Bậc Thầy nhân , thiên , của A . là đức Thế tôn  (Bậc được tất cả cõi Thế và chúng sinh Tôn kính.)  , chư Phật ..   chữ  thường dùng ,  phổ thông trong đại chúng như từ  Như lai ( bậc an nhiên tự tại ).  Đó là  vài danh trong 10 danh hiệu  của bậc giác ngộ đầy đũ  Từ Bi , Trí Huệ  mà mỗi vị Phật đều  được xưng tán bằng những danh hiệu này .  10 danh hiệu đầy đũ  là : Ứng cúng - vị đáng được hưởng sự cúng dường , Ứng Chánh Biến Tri - vị có chánh trí, biết hết tất cả., Minh Hạnh Túc - vị  có đầy đủ trí huệ (Minh) và đức hạnh, Thiện Thệ  (Thiện-khéo, lành. Thệ- Đi không trở lại.)- vị  đã phá hết ba cõi kiến và tư hoặc, đã khéo qua, Thế Gian Giải - vị có thể hiểu rỏ các lý và sự của các bậc hữu tình và vô tình trong thế gian, Vô Thượng Sĩ - vị cao hơn hếr trong các hạng chúng sinh, Điều Ngự Trượng Phu - vị chế ngự được chính mìnhvà chúng sinh, tùy căn tánh chúng sinh mà điều ngự , Thiên Nhơn Sư, Phật , Thế Tôn

Xin  tạm chuyển dịch bài Cúng dường sau :

To make offerings

On knees, I reverently offer in jail

To Buddha a bowl of rice stale

Hatred ceaseless in the world of fear

Offering the rice, I’m wordless, in tears

Keep the pure mind to respectfully offer

To the Enlightened One honoured by all worlds

The heart that no more hurts or suffers

Gladly vows to keep the Buddha’s words

In hard storms, unending torment

I rely on Buddha’s merciful power

To be freed from grief, resentment

In my soul, Udumbaras flower

The world abounds in disputes, fights

Take refuge in Buddha’s grace,

The sea of blessedness infinite

Covering heavens, earths .. all over the place

Keep the good heart-best offering - to repay

The Supreme Lord 's compassion and grac 

TyNa translated

(from the verses by the venerable T.Tue sy and AnNaDa)

1 buổi trong sở  tình cờ nhắc đến những tin thời sự từ vụ khủng bố bằng cách tự sát của dân  Hồi giáo vùng Trung đông  tới câu tuyên bố làm nhiều người phải bàn cãi của 1 nhà lảnh đạo Hồi giáo  " những người không tin theo đạo mình là đều coi như  không giá trị " , những người  Hoà Lan  chợt  giựt mình nhớ lại .. , quay ngó tôi  :

- Xin lỗi ,  VN có  theo Hồi giáo không  ?

rồi  thở ra khi nghe  tôi   " xác định "  là không nghe đến  đạo Hồi  ở  VN !; VN theo truyền thống lễ nghĩa  gia đình và Phật giáo  ảnh hưởng mạnh mẻ sâu rộng  trong đỡi sống xã hội , văn hoá .  VN  có sự hiện diện nhiều  tôn giáo : Phật giáo , Thiên chúa , Tin lành .., đa số theo Phật giáo và các tôn giáo hòa đồng ,  chẳng có vụ tranh chấp quá khích gì cả ..

Khi  kết thúc,  1 người  đồng nghiệp Hoà Lan  không chịu tin  vào đạo nào hết vì cứ chủ trương 1 cách vô thần là tôn giáo là nguồn gốc của sự tranh chấp , phân biệt  và  có thể dẫn cả đến chiến tranh tôn giáo  như tững xãy ra trong lịch sữ , đã nhận xét :

-  .. Thấy kính phục Bubddha .  Đạo Bubddha  thì hiền  không thấy có gây chiến tranh gì hết ...

  1 nhận xét  dù còn xơ xài , hời hợt  bên ngoài của 1 người không kiến thức về đạo Phật  nhưng  lại rất chính xác  .  

Đã có bao sáng tác trong tù … “Nhật ký trong tù “ đầy sắt  thép,  tranh đấu  bất chấp gây  tang thương máu lệ, 1 “ Hoa địa ngục “ đầy đau khổ uất hận , tiếng gào  trong nơi  đen tối không chổ thoát hay truyện “ Pappillon người tù khổ sai “ gian khổ chịu đựng , rồi theo bản năng sinh tồn , trôi theo dòng đời thiện , ác  . Nhưng có  lẻ chỉ những tập thơ như tập "Ngục Trung Mị Ngữ" ,   những bài thơ như Cúng dường  mới cho thấy  sự chịu đựng trong từ bi nhẫn nhục mà tràn thương cảm cho tất cả  : ta , người, bạn, thù và không là tiếng vang than thở  trong 4 bức tường không lối thoát , nhịn nhục vì không thể kháng cự lại  mà  là sự từ bi  trí huệ, hiểu biết  con đường giải thoát chân thật  vĩnh cữu , mạnh mẻ  với niềm tin mà  bạo quyền không khuất phục được  .

Đức Phật dạy  cũa cúng dường cao quí nhất là cúng dường chính thân , tâm  sống  , làm lợi lạc cho mình và  kẻ  khác, thể hiện nổi bật  qua các vị tu sĩ  tu hạnh vì người, vì mình . Và Thượng Tọa Tuệ Sỹ đã  dâng lên món quà cúng dường chân thật ấy bằng cách sống , làm theo lời vị Thầy từ bi tối thượng dù  trong hoàn cảnh khó khăn kèm hãm giữa  tù ngục hận thù ...

TyNa  ( viết cho B.D để h.h)

 Mùa Phật đãn 2004

 

Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved