NGUYỄN ĐÌNH HOÀNG

Phong Vận Kỳ Oan

thơ Vịnh Kiều

 

 

PHONG VẬN KỲ OAN

NGÃ TỰ CƯ (1)

 

Cuốn sách ấy đóa hoa hồng trong tủ sách

Dòng thơ in trên trang giấy hoa tiên (2)

Nhân vật nữ – đóa hoa sầu bất tử

Khi người đời mãi mãi gọi tên

Cuốn sách thành đóa hồng đất nước

Thuở cha anh tay chép gửi trao nhau

Bằng nét bút mang hình tranh thủy mặc (3)

Những bức tranh đen trắng một gam màu

Trang giấy mỏng, trắng mong manh thủa ấy

Bỗng bừng lên vết đen cháy cuộc đời

Hoa nở đỏ giữa trần gian u ám

Lòng thì đau thăm thẳm mù khơi

Khung cửa sổ về khuya chập chờn bóng nến

Mắt người xưa cháy rực giữa đêm đen

Soi thấu cả tiếng đời run nấc nghẹn (4)

Nở thanh âm tiếng sấm kéo âm rền

Tiếng sấm mênh mang –trời mênh mang sấm

Đêm mùa hè giấc ngủ nồng say

Đôi giải yếm mở tuềnh toàng eo trắng

Mà hững hờ kéo sấm xuống chân mây

Nỗi đau viết thành hàng bên cửa sổ

Đọc Tiểu Thanh như đọc số phận mình (5)

Gởi vào đâu đóa hoa hồng rực rỡ

Cháy lên rồi ngọn lửa trái tim xanh

Cháy lên rồi tiếng thơ Kiều lũ lượt

Ngọn bút lông quằn quại giữa nhân gian

Nét bút lượn bóng chim Hồng, chim Lạc

Mạch thơ Nôm – sông Quốc ngữ dâng tràn (6)

Sông lai láng bóng cò xa lục bát

Vẽ vào sương đôi cánh mịt mù bay

Kêu một tiếng thinh không trào nước mắt

Mấy trăm năm bật khóc rụng ngàn mây

Mây rụng xuống cơn mưa đời mê mải

Tiếng sấm đêm xa buồn đến nao lòng

Bèo nước gió mây, phận người chìm nổi

Tiếng ai hò lạnh ngắt ngã ba sông

Tiếng hò nối đôi bờ kim cổ

Ngọn bút lông loang sấm chớp trăm miền

Nét vạch cháy ngang trời sóng vỗ

Đóa hoa sầu lấp lánh hạt mưa đêm

Hạt kết chuỗi lời nhân gian khấn khứa

Vái van xin một quẻ bói thơ Kiều (7)

Chuyện son phấn mở trang kinh thần thánh (8)

Lời tiên tri –câu thơ cũ –vận vừa gieo

Vận gieo xuống trái tim sầu tan nát

Mà hương hoa bay khắp chín từng trời

Chốn oan ương chỉ tự mình đi – ở

Ở cũng là đi đó Nguyễn Du ơi! (9)

 

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

Chốn phong lưu của vần điệu đầy oan nghiệt ta tự mình ở vào đó.

(2)

Một loại giấy quý, trước kia thường dùng in các sách quý như truyện Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Lục Vân Tiên…

(3)

Chữ Hán là dạng chữ vuông, lại mang nhiều yếu tố tượng hình, nên người ta vẫn cho rằng mỗi chữ là một bức tranh. Chữ Nôm dùng chữ Hán để ký âm nên cũng mang đặc tính hội họa ấy.

(4)

"Độc điếu song tiền nhất chỉ thư…”

(Độc Tiểu Thanh ký)

Một mình trước cửa sổ xót thương một trang sách.

(5)

"… Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như…"

(Độc Tiểu Thanh ký)

Không biết hơn ba trăm năm sau,

Thiên hạ ai người khóc Tố Như.

6)

Truyện Kiều được Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm, và ngày nay mọi người đều thừa nhận truyện Kiều đã đạt đến đỉnh cao của tiếng Việt.

(7)

Từ lâu việc bói Kiều đã là một việc không còn xa lạ trong dân gian.

(8)

Chi phấn hữu thần lân tử hậu

(Độc Tiểu Thanh ký)

Son phấn (mà) linh thiêng nên sau khi chết vẫn (khiến người ta) thương tiếc.

(9)

Đối với Nguyễn Du, ông thừa biết quan niệm của người xưa: "lập thân tối hạ thị văn chương" cùng cái oan nghiệt ghê gớm của vần điệu phong lưu, nhưng ông vẫn tự mình ở vào đó và ông đã đi vào bất tử.

 

 

 

2.

KIỀU VIẾNG MỘ

ĐẠM TIÊN

 

Trắng muốt hoa lê buổi xế tà

Chập chờn bóng nước chập chờn hoa

Nhịp cầu nho nhỏ mồ nho nhỏ (1)

Tơ liễu yêu kiều bóng thướt tha (2)

Khung cảnh cứ như là ảo ảnh

Tấm tình thoắt hiện cõi lòng ta

Nấm đất (3) đã khô từ thuở trước

Lệ sầu ai tưới ngập hồn hoa (4)

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh…"

(2)

"… Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha…"

(3) & (4)

"… Trải bao thỏ lặn ác tà

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm

Lòng đâu sẵn mối thương tâm

Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa…”

 

 

3.

MỘT LỜI LÀ MỘT VẬN VÀO KHÓ NGHE (1)

 

"Sè sè tưởng mộ Đạm Tiên

Ai ngờ cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây (2)

Thơ sao chua đến thế này

Vần thơ càng đọc càng cay mắt mình

Cụ ơi! Sáu cõi vô minh

Ai ngờ chuyện cũ buộc thành dây oan

Bạc phần đâu chỉ hồng nhan

Đã trong "thập loại" còn toan được nào (3)

Dấu giầy in giấc chiêm bao

Đạm Tiên ảo ảnh cơn đau Thuý Kiều

Hồn Xuân, tơ liễu, bóng chiều

Dường như sương khói

dường nhiều mong manh

Người về khuất nẻo non xanh

Vó câu gõ nhịp trống đình tim ai

Trông theo hun hút bóng người

Mênh mông nắng lụa vàng phai ráng chiều

Suối ghềnh nước vẫn trong veo

Mà trong sâu thẳm đã nhiều xót xa

Quạnh đời trầm tiếng Xuân ca

Hồn Xuân man mác bóng tà tà dương

Nỗi đau hoa rụng ven đường

Ai hay đã động vết thương cõi người

Đường về lả tả hoa rơi

Cành lê trắng tuyết đêm vời vợi Xuân

Chập chờn đôi ngả dương âm

Tỉnh mê mê tỉnh khóc thầm thương vay

Giọt tình mới nếm vừa say

Giọt thương giọt nhớ giọt đầy giọt vơi

Giọt trần gian, giọt cõi ngoài

Đoạn trường ai đã buộc ai nỗi buồn

"Vận vào" lời ấy Vương Quan

Hay là cụ Nguyễn –gió ngàn thương ai

Sóng trần bèo giạt hoa trôi

Đạm Tiên cõi mộng ngậm ngùi trang thơ

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Quan rằng chị nói hay sao

Một lời là một vận vào khó nghe…"

(2)

Hai câu thơ của nhà thơ Vương Trọng. Sinh thời, Chế Lan Viên rất thích hai câu này và cho rằng chỉ với hai câu thơ ấy Vương Trọng đã có thể góp mặt trên thi đàn Việt Nam.

(3)

Tập Kiều:

"Còn chi là cái hồng nhan

Đã xong thân thế còn toan được nào"

 

 

4-

ĐÊM THÚY KIỀU

SANG NHÀ KIM TRỌNG

 

"… Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng…" (1)

Nguyễn Du đã bớt đi ánh sáng của vầng trăng

Và ngọn nến…

Ngọn nến đang lụi dần trên án sách

Đêm huyền ảo thẫn thờ,

Đêm hiu hắt mông mênh (2)

Đêm cuộc đời Kiều mở ra

trên từng trang giấy,

Trang giấy nhạt nhòa,

Trang giấy mong manh.

Như thoáng gặp nhau

rồi ngàn trùng xa cách (3),

Tình yêu,

Tình yêu như vết cắt,

Đau đáu một đời xanh…

Ngọn nến đã tàn rồi,

Bình minh soi sự thật.

Kiều phải về nhà mình chịu nạn

Cho nỗi đau thương

trần thế hiện nguyên hình

 

 

 

 

DẪN KIỀU

(1)

"… Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng

Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn…"

(Thơ giáo sư Lê Trí Viễn bài Đêm ấy đêm này)

(2)

"… Nhặt thưa trăng dọi đầu cành,

Ngọn đèn trông tỏ trướng huỳnh hắt hiu…"

(3)

"… Bây giờ rõ mặt đôi ta

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao…"

 

5-

TÌNH cũng màu tang trắng

 

Tình yêu vừa trao gửi

Tin nhà đã đến nơi

Liêu Dương xa vời vợi

Tình yêu. Tình yêu ơi

Vội gặp nhau hò hẹn

Chẳng đổi lòng khi xa

Ba năm nào có ngắn (1)

Mối sầu dài thêm ra

Nghĩ buồn duyên tủi phận

Lại giận bấy ông tơ (2)

Sao đùa đau đến vậy

Hoa bướm cùng ngẩn ngơ

Trót cùng nhau gắn bó

Tóc thay chẳng đổi lòng (3)

Màu tình yêu xanh mãi

Một lời một thủy chung

Bịn rịn lòng chẳng nỡ

Tay cứ hoài trong tay

Vầng hồng sao quái ác

Đứng nóc nhà tròn xoay (4)

Lại dùng dằng đếm bước

Lại ngập ngừng loay hoay

Nói thế nào cho hết

Làm sao –làm sao đây?

Lời theo lời trân trọng

Lệ rơi mờ nẻo mây

Gánh sầu treo yên ngựa

Treo ngàn cân đôi vai (5)

Liêu Dương trời xa thẳm

Trắng xóa một màu tang

Tình cũng màu tang trắng

Nỗi thương nhau –lệ tràn

Xót người đi ngàn dặm

Trong mưa dập gió vùi (6)

Ngày lại ngày thương nhớ

Chẳng khi nào nguôi ngoai

Người trông theo ngút mắt

Chín khúc quặn hồn đau

Tình yêu, trời, mây, nước

Trôi đi đâu? Về đâu? (7)

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Ngoài ngàn dặm chốc ba đông

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy…"

(2)

"… Ông tơ ghét bỏ chi nhau

Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi…"

(3)

"… Cùng nhau trót đã nặng lời

Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ…"

(4)

"… Dùng dằng chẳng nỡ rời tay

Vừng đông đâu đã đứng ngay nóc nhà…"

(5)

"… Buộc yên quẩy gánh vội vàng

Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai…”

(6)

"… Não người cữ gió tuần mưa

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày…"

(7)

"… Nàng còn đứng tựa hiên tây

Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ

Trông chừng khói ngất sông thưa

Hoa trôi giạt thắm liễu xơ xác vàng…"

 

 

 

6-

đen nhờ trắng

 

Những thằng bán tơ (1)

Và những gã đầu trâu mặt ngựa (2)

Đời nào chẳng có,

Chúng như cặp song sinh

Đen nhờ trắng

hiện hình

Tay nhám nhúa

Vung dây oan –dây oán (3)

Tanh tưởi máu dân lành

Tiếng Nguyễn Du kêu lên thảng thốt,

Kêu trời xanh

Và nguyền rủa ruồi xanh (4)

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Hỏi ra sau mới biết rằng

Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ…"

(2)

"… Người nách thước kẻ tay dao,

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…"

(3)

"… Rường cao rút ngược dây oan,

Dẫu là đá cũng nát gan lọ người…”

(4)

"… Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời giọt liễu, tan tành gối mai…"

 

 

7-

CÁI GIÁ TRUNG GIAN

 

Khi ngã giá với quan trên

ba trăm lạng vàng mười (1)

Không biết kẻ lại già họ Chung có được

vài lạng hoa hồng nhỏ nhoi không nhỉ?

Nếu quả thật có chuyện đáng buồn như thế!

Duyên chàng Vương

chẳng hóa mối duyên xoàng!

Tình tiết ấy thật âm u

Chưa một thuở rõ ràng

Mà cái giá trung gian

Lại vốn là như thế

Dấu chấm Nguyễn Du khuyên (2)

Cứ lửng lơ

Mặc mọi người suy nghĩ

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Tính bài lót đó luồn đây

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi…"

(2)

Theo "Thúy Kiều tường chú", tác giả Chiêm Vân thị (Trúc Viên Lê Mạnh Liêu dịch), trích nguyên bản Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân thì "Chung Sự vi tống quan nhất bách lượng, tống hướng mã, hình phòng, công sai; tam bối các ngũ thập lượng".

Chung Sự (tên đầy đủ của họ Chung) nhận của nhà họ Vương ba trăm lượng; nay theo nguyên bản: "y biếu quan 100 lượng, bọn cướp, hình phòng, công sai, mỗi nơi 50 lượng, tổng cộng 250 lượng" vậy còn 50 lượng không biết y đưa cho ai (Trúc Viên). Thúy Kiều bán mình trên bốn trăm lượng vàng, lo lót hết ba trăm lượng, số vàng còn lại trên một trăm lượng, vậy mà chỉ sáu tháng sau khi chàng Kim: "Từ ngày muôn dặm phù tang / Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà" thì gia đình Kiều đã hoàn toàn sa sút.

Cho dù như nguyên lục, đó chỉ là hơn một trăm lượng bạc đi nữa thì với một gia đình nền nếp như gia đình Vương viên ngoại, lại vừa trải qua một tai biến kinh hoàng, không thể nào có thể tiêu pha hết được. Như vậy ta có thể đoán rằng, hơn trăm lượng vàng ấy cũng chỉ dùng lo lót biếu xén hết.

Ngoài 50 lượng do họ Chung kê thêm lên cho mình như đã nói ở trên, số vàng đền công chính thức cho họ Chung và đám sai nha, cho công làm trung gian của "mụ mối gần miền" chắc cũng không nhỏ.

Lại thêm có mật thì ruồi kéo nhau bu lại tên này chỉ đường mách nước cho tên khác như ta thường thấy ở bọn sai nha và bọn vô lại trong bất cứ xã hội nào, nên số tiền hơn một trăm lượng vàng mới có thể tiêu tan mau đến thế.

Có lẽ chính ở chỗ này Nguyễn Du muốn để một dấu chấm lửng cho người sau mặc tình suy nghĩ về xã hội cung Vua, phủ Chúa hỗn loạn và đầy bất công thối nát mà ông được chứng kiến chăng?

Và chữ "kẻ" trong "Họ Chung có kẻ lại già" có phải cũng mang một chút ẩn ý coi thường nào đó của Nguyễn Du đối với họ Chung.

(3)

"…Chàng Vương nhớ đến xa gần

Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền

Tình xưa ân trả nghĩa đền

Gia thân mới lại kết duyên Châu Trần…"

 

 

 

 

8-

còn nỗi đau nào

 

Khi mụ mối vén tóc, bắt tay định giá

Thuý Kiều (1)

Liệu có nỗi đau nào hơn

nỗi đau bán mình không nhỉ

Giá dẫu đến ngàn vàng hay là hơn thế

Nỗi đau này hồ dễ mấy ai quên

Dưới ngòi bút Nguyễn Du,

Bọn buôn người lần lượt hiện lên,

Từ Mã Giám Sinh đến mụ mối gần miền (2)

Một lũ tớ thầy

sành sỏi

trơ lì

vô duyên

trâng tráo

Bức tranh vẽ,

Nét sỗ sàng táo bạo

Như gửi lại đời sau những vệt máu bầm rơi

Gửi lại con tim trăn trở giữa đời

Khóc mướn

Thương vay

Mặt dầy nỗi thẹn

Bọn buôn gái vẫn nhởn nhơ

Ngồi ghế trên (3)

sỗ sàng,

trơ trẽn

Cười nói thỏa thuê

Buôn bán số phận người

Những thân phận Thúy Kiều

Trận mưa dầm,

cơn gió bấc

bầm dập tả tơi

Kẻ sĩ xuôi tay (4)

Hiền giả ẩn rồi

Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau ấy

Nguyễn Du ơi.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Mối càng vén tóc bắt tay

Nét buồn như cúc mình gầy như mai…"

(2)

"… Gần miền có một mụ nào

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh…"

(3)

"… Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra…"

(4)

"… Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên…"

(Thơ chữ Hán của Nguyễn Du)

Tạm dịch:

Tráng sĩ đầu bạc buồn bã ngước nhìn trời.

Nỗi buồn về chí lớn (không thi hành được) và nỗi lo kiếm sống không còn biết ra sao nữa.

 

 

 

9.

Còn Em

Một Tấm Lòng Xanh

 

"… Trời Liêu non nước bao xa

Biết đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi…" (1)

Vết thương máu rỉ hồng tươi

Khóc than giọt ngắn giọt dài nỗi đau

Đèn chong soi nửa mái đầu

Soi nghiêng mái tóc, nghiêng sầu,

nghiêng đêm

Ngỡ ngàng tình chị duyên em

Lỡ làng lời hẹn con tim lịm rồi

Mai sau còn có hay thôi

Mai sau ai nhớ một người đã xa

Hiu hiu cơn gió hiên nhà (2)

Chỉ là hư ảo, chỉ là mộng thôi

Chị về chốn cũ chao ơi

Chén quỳnh sóng sánh ngậm ngùi sương tan

Bể tình ai lựa dây oan

Để cho tim chị nát tan dường này

Duyên tình vì chị em thay

Trả cho chàng chút bén dây tơ lòng

Vật này, duyên ấy, của chung (3)

Gửi em, gửi cả trăm dòng lệ rơi

Mai sau hoen lệ gượng cười

Của xưa giở lại –thơm hơi cuộc tình (4)

Chị về sáu cõi mông mênh

Tấm lòng em –bát ngát xanh –vẫn còn

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

(Thơ Kiều)

(2)

"… Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về…"

(3)

"… Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung…"

(4)

"… Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này…"

 

 

 

10.

lũ tú ông

"… Rằng hay thì thực là hay (1)

Nho đối với xỏ lão này đếch ưa…” (2)

Giọng Nguyễn Khuyến nhẩn nha

Mà tận cùng khinh miệt

Những gã đàn ông

bảnh bao chải chuốt (3)

Xênh xang giữa chợ buôn người

Lũ tú ông

cổ điển

tân thời

Tuồng chi một giống tanh hôi (4)

Tiếng khóc Thúy Kiều bi thương căm giận

Vết đau dơ (5)

Thành vết chém ngang người

Chân bước hụt mất rồi

Thăm thẳm cuộc đời rơi

Và thăm thẳm

Mảnh tình rơi.

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1) & (2)

Thơ Nguyễn Khuyến bình hai câu thơ vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh:

"… Làng Nho người cũng coi ra vẻ

Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay…"

(3)

Nguyễn Du tả Mã Giám Sinh:

"… Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao…"

Tả Sở Khanh:

"… Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng…"

(4)

"… Tuồng chi là giống hôi tanh

Thân ngàn vàng để ô danh má hồng…”

 

 

11.

thương hiệu tú bà

Khi Tú Bà chửi Mã Giám Sinh:

"… Tuồng vô sỉ ở bất nhân…" (1)

Không hiểu trong thâm tâm

Tú Bà có nhìn lại mình không nhỉ?

Hãy tưởng tượng,

Nếu quả có một lần như thế,

Thì Nguyễn Du đâu có thể khóc thương Kiều

Và sẽ chẳng có dịp nào

Thấy Tú Bà dục hoãn cầu mưu

Để dùng thế đà đao (2)

đưa Thúy Kiều vào rọ

Chỉ với một gã bảo kê hạng xoàng họ Sở

Cũng đủ cho con chim xanh

chết dở ở trong lồng

Lưỡi dao con giờ thành lưỡi dao cùn (3)

Chẳng bao giờ Thuý Kiều còn dám giở ra

để liệu với thân lần nữa (4)

Thương hiệu "Tú Bà"

cũng chẳng trở thành có giá

Để ngàn sau đeo cho những ả buôn người

Cái xảo trá lọc lừa

Mấy trăm năm thì vẫn thế

Nguyễn Du ơi!

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Tuồng vô sỉ ở bất nhân

Buồn tình trước đã tần mần thử chơi…"

(2)

"… Đà đao sắp sẵn chước dùng

Lạ gì một cốt một đồng xưa nay…”

(3)

"… Trên yên sẵn có con dao

Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn…”

(4)

"… Phòng khi nước đã đến chân

Dao này thì liệu với thân sau này…"

(5)

" lần nữa"

Thúy Kiều đã: "… Sẵn dao tay áo tức thì giở ra…", dùng dao tự sát khi mới tới động của Tú Bà, bị Tú Bà toan hành hung và cũng chỉ một lần duy nhất ấy.

 

 

 

12-

đoạn trường thăm thẳm

một dòng xuôi

 

Thúy Kiều sau cú lừa thế kỷ (1)

Đành đặt mình trong cái vốn

của phường buôn (2)

Thân ngàn vàng đem chuộc một trận đòn (3)

Cho tiếng khóc mãi ngàn sau còn tấm tức

Bài học vỡ lòng (4)

Lẫn tiếng đàn đưa ma cuộc đời Kiều réo rắt

Thấp thoáng đèn mờ,

Thấp thoáng lầu xanh (5)

Thấp thoáng bóng Kiều

Chập choạng đêm thanh (6)

Đưa cửa trước,

Rước cửa sau (7)

Vành bảy chữ (8)

Vành tám nghề (9)

Tròn xoay,

xoay mãi

 

Mặt dày dạn (10)

Mấy phong trần chìm nổi

Xót thương mình đứt ruột mối tình si

Chợ đã cấm,

Sông đã ngăn

Mờ mịt lối đi, về

Và nỗi nhớ,

trời ơi

là nỗi nhớ.

Đòi đoạn vò tơ (11)

Song sa vò võ (12)

Tháng lụn

Ngày qua (13)

Sóng vỗ

Bèo trôi.

Bổi hổi

Bồi hồi,

Mặt nước

chân mây,

cánh bèo,

ngọn gió.

Đoạn trường thăm thẳm một dòng xuôi. (14)

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Thôi đà mắc lận thì thôi

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh.

Bạc tình nổi tiếng lầu xanh

Một tay chôn biết bao cành phù dung…"

(2) & (3)

"… Nhưng tôi có sá chi tôi

Phận tôi đành vậy vốn người để đâu

Thân lươn bao quản lấm đầu

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa…"

(4)

"… Xót mình cửa các buồng khuê

Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay…"

(5)

"… Lầu xanh mới rủ trướng đào

Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người…"

 

 

(6)

"… Dập dìu lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa…"

(7)

"… Tin nhạn vắng, lá thư bài

Đưa người cửa trước rước người cửa sau…”

(8) & (9)

"… Này con thuộc lấy làm lòng

Vành ngoài bẩy chữ vành trong tám nghề…"

(10)

"… Khéo là mặt dạn mày dày

Kiếp người đã đến thế này thì thôi…"

(11) & (12) & (13)

"… Mối tình đòi đoạn vò tơ

Giấc hương quan luống lần mơ canh dài

Song sa vò võ phương trời

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng…"

(14)

"… Lần lần thỏ bạc ác vàng

Xót người trong hội đoạn trường đòi cơn…"

 

13-

lại vẫn giọt mưa khuya

 

Như các công tử con cái gia đình quyền quý

trong thời đại chúng ta

Tiêu tiền bằng vé (1)

Thúc Sinh cũng ném tiền qua cửa sổ (2)

Để mua lấy những cuộc tình trăng gió

Của các cô nàng

móng đỏ

mắt xanh

Này bèo dạt

Nọ hoa trôi

Con nước ròng cạn kiệt,

Con nước lớn mông mênh

Cũng có lúc bến tình mong ghé lại

Cảnh Kiều tắm (3)

ới giời ơi

có phải

Là đong đưa

là chìm nổi

với nghề không

Cái nghề xưa

Nghe nói đã thẹn thùng

Mà nay đã quen chừng đấy hẳn

Hay chỉ muốn

Một lần thôi

cùng ai đeo đẳng

Để cùng ai thoát hẳn vũng bùn nhơ

Đã sợ lắm rồi

Thân nhện vương tơ (4)

Cái ổ nhện tròn xoe,

cứ từng vòng,

quay tít

Thà nép dưới sân hoa,

Chịu lôi đình sấm sét (5)

Để một bề giã biệt chốn lầu xanh (6)

Cũng khen ai,

gan gắng gỏi với tình

Để hoa bút, (7)

chạnh lòng ai,

xót thương mình lỡ dở

Mặt sắt cũng mềm lòng

Hoa lại về bến đỗ (8)

Có nên khen chàng Thúc một lời không

Chàng quý tử yêu hoa

đâu thiếu nét một ông trùm!

Cũng thuê mướn bảo kê (9)

Tụ tập đám du côn (10)

Đánh một bước

Tú Bà lui một bước (11)

Nhưng có lẽ bóng ô dù của ngài Tể tướng (12)

Che trên đầu chàng con rể yêu hoa

Mới đủ uy

khiến Mã, Sở, Tú Bà,

Chịu lép vế

thua cơ

tiễn Kiều ra khỏi cửa

Cái bình giấm Hoạn Thư,

hỡi ơi,

thế thì chua quá cỡ.

Thành lọ cường toan (13) săn chốn ở đường về

Thân phận Kiều

Lại vẫn giọt mưa khuya

Rơi xuống giếng

Rơi vườn hoa (14)

Rơi vào đâu

Ai biết?!

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

1 vé = 100 USD

(2)

"… Thúc Sinh quen thói bốc rời

Trăm nghìn đổ một trận cười như không…”

(3)

"… Buồng the phải buổi thong dong

Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Sinh càng tỏ nét càng khen…"

(4) & (5) & (6)

"… Nàng rằng đã quyết một bề

Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần

Đục trong thân cũng là thân

Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình…"

(7)

"… Nàng vâng cất bút tay đề

Tiên hoa trình trước án phê xem tường…"

(8)

"… Huệ lan thơm nức một nhà

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa…"

(9) & (10) & (11)

"… Chiến hòa sắp sẵn hai bài

Mượn tay thầy thợ, kiếm người dò la

Bắn tin đến mặt Tú Bà

Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám đâu…”

(12)

Khi Kiều bị bắt đưa về nhà cha mẹ Hoạn Thư: "… Ngước trông tòa rộng dẫy dài,

Thiên quan Chủng tể có bài treo trên…"

Thiên quan trong Chu lễ là chức quan coi bộ Lại bây giờ, Chủng tể là Tể tướng. Như vậy cha Hoạn Thư là Thượng thư giữ chức Tể tướng.

(13)

Chất cường toan: tên gọi khác của acide

(14)

"… Thân em như giọt mưa rào,

Giọt rơi xuống giếng, giọt vào vườn hoa…"

(Ca dao)

 

14-

đen lẩn vào trong trắng

 

Đêm và ngày,

Đen và trắng

Tưởng chẳng bao giờ có thể lẩn vào nhau

Nếu cuộc sống luôn rạch ròi như thế

Thì đời đâu có nỗi đau

Khi cơn ghen đã bốc lửa lên đầu

Hoạn Thư cũng không thể giữ mình

ngồi cao được nữa

Cũng phải gặp bọn khuyển ưng (1)

Cũng bày trò đâm heo, thuốc chó

Bắt cóc (2)

Đốt nhà (3)

Giở đủ trò quỷ quái tinh ma (4)

Con quỷ xã hội đen

Bỗng tru lên từng hồi,

điêu toa,

hắc ám.

Đen lẩn vào trong trắng

Màu trắng biến hình

Màu trắng lọ lem

Ngày và đêm đan xen

Và quan bà Tể tướng (5)

Cũng vội khoác cho mình chiếc áo màu đen

Gõ trống

Khua chiêng

Giục giã con mình ra trận (6)

Để bắt đầu

màn kịch

Hoạn Thư ghen.

 

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Sửa sang buồm gió lèo mây

Khuyển Ưng lại chọn một bầy côn quang

Dặn dò đủ hết mọi đàng

Thuận phong một lá vượt sang bến Tề…"

(2) & (3) & (4)

"… Thuốc mê đâu đã tưới vào

Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì

Vực ngay lên ngựa tức thì

Phòng đào viện sách bốn bề lửa dong

Sẵn thây vô chủ ven sông

Đem vào để đó lộn sòng ai hay…"

(5) & (6)

"… Phu nhân khen chước rất màu

Chiều con lại dạy mặc dầu ra tay…"

 

 

 

15-

những mảng đen

 

Thói bênh con của các quan ông quan bà

Thời đại nào chẳng có

Chúng như từ một cửa sinh ra

Bà Thượng thư bỗng chốc hóa quan tòa (1)

Mặc sức với Thuý Kiều

ra oai

tác phúc

Quan Thượng thư đứng khoanh tay

như người ngoài cuộc

Lặng lẽ đứng nhìn

Có lẽ Nguyễn Du cũng chẳng dám tin

Xã hội ông có những mảng đen

nặng nề đến thế (1)

Nhưng cuộc sống vốn là những điều có thể

Nên dinh quan thành vị trí mở phiên tòa (2)

Bị cáo Thúy Kiều,

Sau trận đòn nát ngọc nhàu hoa (3)

Thêm án phạt

Làm nô tì cho quan bà trọn kiếp (4)

Cái ghen của Hoạn Thư,

Chỉ mới bắt đầu thôi

Mà đùng đùng sấm sét

Đất cũng tối tăm

mờ mịt

hoang mang

Thúy Kiều đau thương

thổn thức

bàng hoàng

Đường địa ngục,

Nẻo thiên đàng (5)

Biết lối nào đi tới

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

Nguyễn Du sinh năm 1765. Theo sử liệu còn giữ được thì từ nhỏ ông sống ở kinh thành Thăng Long với cha và rồi với anh, đều làm quan to triều Lê Trịnh, ít ra tới năm 1784, năm Tham tụng Nguyễn Khải (Việt Nam Sử Lược cuả Trần Trọng Kim chép là Ly, cũng có sách chép là Lệ), anh ông, bị đám kiêu binh Thanh, Nghệ phá nhà tìm giết phải chạy trốn lên Sơn Tây, ông mới rời khỏi nơi này.

Năm trước đó, năm 1783, Nguyễn Du 18 tuổi, ông đậu tam trường khoa thi Hương.

Sử liệu không cho biết vì sao ông không học và thi lên cao nữa. Chắc chắn những biến động và hỗn loạn ở kinh thành lúc ấy, sự lộng hành của Đặng Mậu Lân (em trai Tuyên phi Đặng Thị Huệ) và băng đảng, đến Chúa, Lân cũng chẳng coi ra gì : "Lân nổi giận đùng đùng mà rằng :"À! Mày định đem Chúa ra dọa tao phỏng? Chúa là cái quái gì!" (Hoàng Lê Nhất Thống Chí), và sau đó là loạn kiêu binh với những tác oai, tác quái của đám kiêu binh Thanh Nghệ làm náo loạn cả kinh thành, được ghi lại rất nhiều trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Thì Chí, đã trở thành những mảng đen xã hội nặng nề trong suy nghĩ của Nguyễn Du, khiến ông cảm thấy chán nản mà không thi cử gì thêm nữa.

(2)

"… Ngước trông tòa rộng dẫy dài

Thiên quan Chủng tể có bài treo trên

Ban ngày sáp thắp hai bên

Trên giường thất bửu ngồi trên một bà

Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra

Sự mình nàng phải cứ mà thưa lên…"

(3)

"… Trúc côn ra sức đập vào

Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh…"

(4)

"… Hoa nô truyền dạy đổi tên

Buồng thêu dạy sắp vào phiên thị tì…"

(5)

"… Vâng lời nàng mới theo sang,

Biết đâu địa ngục, thiên đàng là đâu…”

 

16-

ĐÂU CHỈ CÓ HAI NGƯỜI

 

Như một người mang tuyệt kỹ cửu âm công

Đòn đánh ra nhu hiểm lạnh lùng

Gương mặt…

tiếng cười…

lạt lẽo

Hoạn Thư ơi!

Ngay khi quất những roi đòn

trên những nỗi hờn ghen

Nàng vẫn vô cùng cao xa kênh kiệu

Vẫn mực thước đoan trang

như khi dạy bảo lũ tôi đòi

Chiếu tiệc đèn hoa

Bình the tấu nhạc (1)

Ai cười đau (2)

Ai khóc hận (3)

Ai thấp trí thua cơ (4)

Ai quay quắt nỗi ngậm ngùi

Ai uống rượu mừng

Ai mời ai rượu phạt (5)

Ai chẳng dám quen ai (6)

Buổi tiệc vẫn êm đềm

Mặt nước lặng yên,

Nỗi đau ngầm bỏng rát

Trái tim đau,

Trái tim đau,

Đâu chỉ có hai người.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

Tâm sự Kiều khi phải gẩy đàn cho Hoạn Thư và Thúc Sinh nghe:

"… Nàng đà tán hoán tê mê

Vâng lời ra trước bình the văn đàn..".

(2)

Tâm sự Hoạn Thư:

"… Lòng riêng khấp khởi mừng thầm

Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay…”

Tâm sự Kiều và Thúc Sinh:

"… Bốn dây như khóc như than

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng..".

(3) & (4)

Thúc Sinh sợ vợ:

"… Thấp cơ thua trí đàn bà

Trông vào đau ruột nói ra ngại lời..”.

(5)

"… Tiểu thư lại thét con Hoa

Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn…"

(6)

"… Sợ quen dám ngỏ ra lời

Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa…"

 

 

 

17-

NỐT NHẠC THẦM

 

Khi Thúy Kiều ôm chuông vàng khánh bạc (1)

Trốn khỏi nhà Hoạn Thư

Thì chút nghĩa đèo bòng (2)

mong thoát khỏi vũng bùn nhơ

Đã không thể đèo nhau đi xa hơn được nữa

Thúy Kiều ơi

Dẫu luồn xuống mái nhà (3)

Mà tình yêu Thúc Sinh chẳng đủ

Thì làm sao!

Làm sao!

chẳng phải bỏ ra đi!

Hoạn Thư ơi!

 

Với vẻ đoan trang

mực thước

lạnh lẽo

kiêu kỳ

Nàng đã giết chết một Thúy Kiều

nhục nhã

bẽ bàng

thơ ngây

tan nát

Trong cái thua đau

Kiều có cả nỗi đau đời thua thiệt

Vì ai !?…

Vì ai !?…

Mà thua chị kém em

Muốn trở lại cuộc đời thường

Đường sao quá chông chênh

Đất khách một mình (4)

Cuộc vạn lý trường chinh

xa tít tắp

Ơi cái nốt nhạc thầm

chuông vàng khánh bạc

Sao mà đau quái ác

Đau suốt cuộc đời Kiều

Đau suốt cả trăm năm.

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nghĩ đi nghĩ lại quanh co

Phật tiền sẵn có mấy đồ kim ngân

Bên mình giắt để hộ thân…”

(2)

"… Đôi ta chút nghĩa đèo bòng

Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.."

(3)

"… Cúi đầu luồn xuống mái nhà

Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng…"

(4)

"… Chỉn e đất khách một mình

Chim khôn chưa dễ tìm vành ấm no…"

18-

CĂN BỆNH

MẤY NGÀN NĂM

Như những gã chồng vờ Malaysia, Đài Loan,

Trung Quốc…

Mua vợ kinh doanh

Lời khấn nguyền của Bạc Hạnh

trước lúc thành thân

Cũng chỉ để xin xỏ vận may

nơi thần mày trắng (1)

Thúy Kiều ơi,

Non nước xa khơi,

Châu Thai buồm thuận (2)

Nước lại vẩn bùn (3)

Thân vẫn nhọ nhem

Trò buôn người của đám xã hội đen

Thời đại nào chẳng một vốn mười lời (4)

kiếm tiền như nước

Thân gái dặm trường

Sa cơ lỡ bước

Gởi vào đâu được cuộc đời xuân

Lầu xanh (5)

Lầu xanh

Con thò lò sáu mặt vây quanh

Mua bán, dập vùi nhan sắc

Lầu xanh

Lầu xanh

Thị dục loài người

Căn bệnh mấy ngàn năm

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng

Quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công…"

(2)

"… Thành thân mới rước xuống thuyền

Thuận buồm một lá xuôi miền Châu Thai…"

(3)

"… Tiếc thay nước đã đánh phèn

Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần…"

(4)

"… Xem người định giá vừa rồi

Món hàng một đã ra mười thì buông…"

(5)

"… Đưa nàng vào lạy gia đường

Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh…"

 

 

19 -

CÁI GẬT ĐẦU TRI KỶ

 

Châu Thai

Châu Thai

Chốn ấy lầu xanh hai lần mắc bẫy (1)

Nợ cũ gỡ ra rồi

Nợ mới ấy ai trao

Sao đào hoa nằm ở cung nào (2)

Cứ gỡ ra lại buộc vào mấy đận (3)

Đã phải liều má phấn (4)

Ngày xanh rồi tàn phai (5)

Nên lòng ai nguội lạnh

Ai nào dám khinh ai

Tấm can tràng son sắt (6)

Gửi vào đâu thân phận cánh hoa rơi (7)

Tiếng kể Thúy Kiều đau thương bằn bặt

Nợ non sông bỗng nặng gánh –

những con người

Từ chỉ gật đầu thôi

Cái gật đầu tri kỷ (8)

Mà chân tơ kẽ tóc hiểu nhau rồi

Châu Thai

Châu Thai

Phúc họa lẽ nào là một cặp sinh đôi?

 

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Mới trông nàng đã biết tình

Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao…"

(2) & (3)

"… Chém cha cái số hoa đào

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi…"

(4) & (5)

"… Biết thân chạy chẳng khỏi trời

Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh…"

(6) & (7)

"… Chút riêng chọn đá thử vàng

Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu…”

(8)

"… Nghe lời vừa ý gật đầu,

Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người…"

 

 

 

 

20-

SAO VẪN MÒN MỎI ĐỢI

 

Đến chẳng phải tình cờ

Đi hẳn có nguyên do

Phút động lòng bốn phương

của kẻ trượng phu (1)

Đâu chỉ mải mê chuyện giang hồ sóng gió

Cũng chẳng vì áo cơm nặng nợ

Mà non sông quang gánh nọ chưa tròn (2)

Cánh chim bằng mượn cơn gió Lão Trang (3)

Bay tới chín tầng trời cao mút mắt

Cửa đã đóng lại rồi

Then mây cài đã nhặt (4)

Nỗi nhớ nhà vẫn hiu hắt khôn khuây (5)

Nhớ cánh chim hồng vẫn mịt mù bay (6)

Con mắt đăm đăm

Nghĩ gì đây Kiều hỡi

Đã tâm phúc tương tri

Sao vẫn mòn mỏi đợi

Đợi kẻ tình si

Hay đợi cuộc đổi đời

 

DẪN KIỀU:

(1)

"… Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương…"

(2)

"… Giang hồ quen thú vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo…"

(3)

"… Quyết lời dứt áo ra đi

Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi…"

(4)

"… Nàng từ chiếc bóng song mai

Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây…"

(5)

"… Đoái trông muôn dặm tử phần

Hồn quê theo ngọn mây tần xa xa…"

(6)

"… Cánh hồng bay bổng tuyệt vời

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm…”

 

 

21-

VẪN NỤ CƯỜI XƯA

 

Từ trở về có đúng lời ước hẹn

Một năm chầy (1)

Một điểm đến…

Châu Thai

Nhưng chậm hay mau thì cũng tốt mà thôi

Cũng mát mặt một mảnh đời chìm nổi

Hãy thử nghĩ

Nếu Từ không trở lại

Thì nỗi bẽ bàng Kiều biết gởi vào đâu

Nên nỗi mong chờ

không lay chuyển giữa binh đao

Là nỗi nhớ

nỗi chờ nhau

rất thật (2)

Thúy Kiều ơi

Với lễ rước chầu vu quy trang trọng nhất <