THANH TÂM TUYỀN ,

                                 thi sĩ  tuyệt vọng trần truồng

 

                                                                                             

                                                                                                                 Bùi Công Thuấn

 

 

Hình ông Thanh Tâm Tuyền thời trẻ

          Chân dung Thanh Tâm Tuyền                            

 

                  Viết về Thanh Tâm Tuyền   là một đề tài nhạy cảm ở thời điểm hiện nay , bởi rất dễ gây ra những ngộ nhận cách này hay cách khác . V́ thế cần nh́n nhận vấn đề trên quan điểm lịch sử và phuơng pháp phân tích khoa học , cùng  với tấm ḷng trân trọng thi ca dân tộc . Cũng cần lưu ư rằng có một Thanh Tâm Tuyền ngoài đời  , con người  xă hội    Thanh Tâm Tuyền trong thơ cuả ông , con người thi sĩ . Hai con người này không đồng nhất , và không nên đồng nhất hai con người này . Đă có một thời người ta  đồng nhất con người xă hội và con người nhà thơ nhà văn , khiến cho  Nguyễn Du , các nhà văn cuả Tự Lực Văn Đoàn , Vũ Trọng Phụng …một thời không được đánh giá đúng tài năng và những đóng góp cho lịch sử văn chương Việt Nam. Thanh Tâm Tuyền là một hiện tuợng thơ đặc biệt  góp phần cách tân thơ ca ở miền  Nam sau 1954 , nhưng thơ ông không dễ đọc .

 

1 . “Hoàng đế đầy đủ quyền uy”

 

                         Thanh Tâm Tuyền có một vương quốc thơ . Người đọc thơ  ông là người hoàn toàn tự do, có thể đọc và có thể ném cuốn sách ra cưả sổ. Nhưng nếu muốn nhập lănh thổ thơ ông , người đọc phải thần phục những luật lệ tinh thần do ông  đặt ra.  Ông nói với người đọc :

 

                «Ở đây tôi là hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi v́ người vào trong đất đai của tôi, người hoàn toàn tự do. Để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lănh thổ. Người hoàn toàn tự do. Và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ.» (1)

                Đó là những lời thách thức  cao ngạo đối với độc giả đương thời . Cao ngạo là một thứ bệnh tự huyễn hoặc cuả nhà thơ,  nhà văn . Xưa nay thường thế , vưà như một cá tính , vưà như để bắt thiên hạ phải chú ư đến ḿnh , Nguyễn Công Trứ , Cao Bá Quát , Tản Đà , Nguyễn Tuân , Xuân Diệu …đă từng một thời  cao rao :Ta là một là riêng là thứ nhất “( Xuân Diệu ) . Thanh Tâm Tuyền tự phong ḿnh là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy trong lănh thổ thơ cuả ḿnh , bắt người đọc phải thần phục, th́ cũng là một cách chơi ngông như thế . Nhưng Thanh Tâm Tuyền thách thức thiên hạ , và lời  thách thức ấy cho đến nay dường như vẫn c̣n nguyên giá trị .

 

                Người ta ca ngợi , người ta khẳng định tài năng Thanh Tâm Tuyền , và đ̣i phải xác lập vị trí cuả ông trong thơ ca Việt Nam hiện đại , thế nhưng dường như chưa có ai thực sư thâm nhập được vùng đất đai thơ Thanh Tâm Tuyền . “ Người đọc theo dơi, t́m hiểu, chứ thật sự yêu thích th́ không nhiều; cũng có người, có bài báo chê trách là thơ lập dị, bí hiểm, hũ nút. “ (2 )


               Chẳng hạn, đọc bài Tĩnh Vật (
tạp chí Sáng Tạo, số Xuân 1957) , Phạm Việt Tuyền  chỉ tiếp cận được một cách  cảm tính , ông không đọc được bằng  trí tuệ , bởi v́ trí tuệ  bất lực trước một cấu trúc ngôn ngữ  mới lạ : “ Đấy là thứ thơ phải hiểu bằng trực giác, phải nhờ tưởng tượng và t́nh cảm để nếm cái khoái trá bí mật nhưng có thật đối với những kẻ định dùng cân lượng của văn xuôi mà đo lường...”(3)

 

              Phạm Xuân Nguyên , gần 40 năm sau ( 1994 ) ,  dẫn bài Tĩnh Vật như là tiêu biểu thơ tự do cuả ThanhTâm Tuyền , cũng không  có một kiến giải nào về bài thơ trên ( có lẽ không  nhập được vào lănh thổ thơ Thanh Tâm Tuyền )  . Ông muợn ư cuả Phạm Việt Tuyền , Cao Thế Dung và Trương Vũ để kết  : “ Nhận xét của Cao Thế Dung và Trương Vũ, theo tôi, đă nói được khá chính xác giá trị thơ Thanh Tâm Tuyền và ư nghĩa cuộc đổi mới thơ của ông đối với thơ Việt miền Nam nói riêng và thơ Việt nói chung “(4)

            Vậy làm thế nào để nhập vào được lănh thổ thơ Thanh Tâm Tuyền ? tất nhiên là phải thần phục những luật lệ tinh thần do Thanh Tâm Tuyền đặt ra. Những luật lệ ấy là ǵ ?

 

Theo tôi đó là “ thi pháp “ cuả thơ Thanh Tâm Tuyền . Không khám phá thi pháp này , không thể đọc thơ ông .

 

            Đặng Tiến cho rằng “ Thanh Tâm Tuyền phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ : loại trừ vần, không theo nhịp của ngôn ngữ, xáo trộn thanh điệu bằng trắc; muốn như thế, ông phải sắp xếp lại ư tưởng, h́nh ảnh, để làm mới ngôn ngữ. Thơ xưa đem tư tưởng ra «diễn ca», c̣n Thanh Tâm Tuyền tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới.” (5)

            Nhận xét trên cuả Đặng Tiến là có cơ sở , nhưng chỉ ở mặt kỹ thuật viết  , kỹ thuật Tân H́nh Thức . Điều này Nguyễn Xuân Sanh đă làm rất đạt từ trước Thanh Tâm Tuyền ( chẳng hạn bài Buồn Xưa ) . Thanh Tâm Tuyền không phá vỡ vỏ ngữ âm cuả câu,hay bài thơ. Đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, người đọc luôn nghe một giọng trầm buồn nhẹ nhàng nhưng sâu lắng . Thanh Tâm Tuyền vẫn triệt để khai thác nhịp điệu thơ . Ông dùng nhiều kiểu  trùng điệp , kiểu ngắt nhịp , kiểu câu dài ngắn xen kẽ , kiểu câu kể xen với câu trữ t́nh , câu độc thoại …

 

                        Vậy cốt lơi thi pháp cuả thơ Thanh Tâm Tuyền là ǵ ?

                        Đó là nguyên tắc sáng tác  có nền tảng tư tưởng và nghệ thuât dưạ  trên chủ nghiă Hiện Sinh , chủ nghiă Siêu Thực và kỹ thuật Tân H́nh Thức. Thanh Tâm Tuyền đă kết hợp cả ba ư thức nghệ thuật trên cùng một lúc trong tác phẩm cuả ông để làm nên sự mới lạ trong thơ.

 

                        Thơ Thanh Tâm Tuyền ( TTT ) , mỗi bài thơ là một  ḍng  ư thức , một trạng thái hiện sinh cuả nhà thơ , không phải ḍng chảy tâm trạng như trong thơ Lăng Mạn . Đây là một bước cách tân , đưa thơ Lăng Mạn 193-1945 vào bảo tàng quá khứ .V́ đặc điểm căn bản cuả Thơ Mới là ḍng chảy tâm trạng trước thực tại , là sự tồn tại Cái Tôi tiểu tư sản trong thơ . Thơ TTT ở hai tập thơ đầu , được viết với kỹ thuật  ḍng ư thức .Thơ là ḍng ư thức tuôn chảy ,  như một  sông, ở đó những tư tưởng , cảm xúc , liên tưởng bất chợt , luôn lấn át nhau , đan bện vào nhau kỳ quăc và phi logic . Hiện thực bị cắt vụn , bị phân ly , ném đi mỗi nơi một mảnh . “ Cái tôi “ tồn tại trực tiếp trong ư thức .Bài thơ không có bối cảnh hiện thực. Không gian thời gian  bị tước bỏ  vai tṛ làm bối cảnh , chỉ c̣n cái lơi là ḍng  ư thức . Ḍng chảy ư thức ấy không c̣n bám rễ được vào hiện thực  khiến cho nó trở nên thực sự không hiều được .

 

                        Nếu ḍng ư thức tạo nên cấu trúc tác phẩm th́ những mảng h́nh ảnh siêu thực lại là phương cách TTT thể hiện ư thức.Thơ Thanh Tâm Tuyền đầy dẫy những h́nh ảnh siêu thưc , như trong những giấc mơ  quái gở . Giải mă những giấc mơ như thế là vô nghiă . Nhưng nó lộ ra những  vùng sâu thẳm trong ư thức cuả Thanh Tâm Tuyền đối với thực tại . Chẳng hạn : Giấc mơ  tôi thèm giết tôi “ bằng cách  bóp cổ chết , giấc đi t́m thần chết , nắm tóc bắt thần chết gật đầu

 

                                                tôi thèm giết tôi

loài sát nhân muôn đời

tôi gào tên tôi thảm thiết

thanh tâm tuyền

bóp cổ tôi chết gục

                       ( Phục Sinh )

Từ biệt nàng tôi hỏi

Em đă chết rồi chăng?

Trong quan tài nàng đáp

Ôi đất lạnh mưa băng

 

Tôi t́m thần chết hỏi

Nàng được tự do chăng?

Thần chết câm và điếc

Tôi nắm tóc bắt gật đầu

Và trở về dương thế…

                  ( Sầu Khúc )

 

Ta đă gặp đâu đây những cơn mộng mị hoảng loạn như thế trong thơ cuả  Hàn Mặc Tử :

 

                       Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

                                               Sáng dậy điên cuồng mưả máu ra ( Say Trăng )

 

                                                Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng

                                                Để cho hồn bớt nỗi bi thương

                                                Nhưng khốn nỗi , xác ta đành câm tiếng

                                                Hồn đi rồi khôn nhập xác thê lương

                                                                                         ( Hồn Lià Khỏi xác )

                        Quả thật ,  không phải vô t́nh mà TTT ca ngợi Hàn Mặc Tử  , v́ trong ḍng Thơ Mới 1930-1945 , Hàn Mặc Tử đă vượt qua Tượng Trưng để đến với Siêu Thực.

 

                        Về ngôn từ , Thanh Tâm Tuyền  dùng nhiều phép so sánh , ẩn dụ . Để hiểu những ẩn dụ này , người đọc phải vượt qua nhiều liên tưởng mới tới được ư nghiă thực  . Nhiều ẩn dụ đ̣i hỏi những bước liên tưởng quá xa ,  không sao lần ra  nguồn cội ,  người đọc mệt trí và bất lực.

 

                                                tôi buồn chết như buồn ngủ

dù tôi đang đứng bên bờ sông

nước đen sâu thao thức

                                    ( Phục Sinh )

 

                        Câu “ tôi buồn chết như buồn ngủ / dù tôi đang đứng bên bờ sông là một so sánh b́nh thường,  vế so sánh đă có chút mới lạ  . Đến câu “ nước đen sâu thao thức “ phép ẩn dụ đă đưa tư duy người đọc đi rất xa , câu thơ trở nên đa nghiă. Có thể là : tôi đứng bên bờ sông nước đen , ḍng nuớc sâu  thao thức ;  hoặc tôi đứng bên bờ sông , đêm đen , sâu thẳm , tôi thao thức về trạng thái “ buồn chết ‘ …

 

                        Trong một câu thơ, đôi khi TTT lắp ghép thật nhiều h́nh ảnh thuộc những trường nghiă khác nhau , khiến cho người đọc không sao lần ra những mối quan hệ giưă chúng

                                    bàn tay /  mày / mắt /  trăng /  môi /  nhiệt đới

                                    chiến tranh  c̣n những khoảng trống đất hoang

                                                                                                         ( Chim )

                        Câu thơ TTT cũng được thiết kế theo một cách riêng , ông không   ngắt câu theo cú pháp thông thường , mà viết liền mạch các câuliên tiếp chồng lên nhau hoặc cắt vụn cấu trúc câu ra chỉ c̣n đơn vị từ. TTT cũng tạo ra nhiều kiểu bố cục mới lạ  ,  ư tứ không được sắp xếp  theo logic  b́nh thường mà đảo lộn bất thường . Chẳng hạn , mở đầu bài thơ là một loạt những  cận ảnh , sau đó  ống kính lùi dần, lộ ra câu thơ chủ thể . Câu thơ mang ư nghiă  chủ đề có thể đứng ở giưă hoặc cuối bài ( Nhịp Ba ; Chim ; Định Nghiă Một bài thơ Hay ; Một Bài Thơ ; Cỏ ..) Người đọc phải biết ngắt câu thơ TTT đúng cách , biết t́m ra cấu trúc bài thơ trong đó ư tưởng chủ đạo bị ẩn dấu , bị vây quanh , bị làm nhiễu bởi những h́nh ảnh siêu thực , những ẫn dụ , nhữ đan bện phi logic pha tạp cuả ư thức , cả cái thực và cái hoang tưởng . Tức là phải tháo rời bài thơ ra , lắp ráp lại, phải xoay sở t́m cho được cái logic đă bị phá vỡ , giải mă những ẫn dụ ,  phải đọc nhiều lần bài thơ may ra trí tuệ mới t́m ra lối vào.

                       

Xin đem tất cả những kỹ thuật cuả thi pháp TTT nêu trên để thử sức với bài Tĩnh Vật

( bài thơ mà cả Phạm Việt Tuyền và Phạm Xuân Nguyên , cách nhau gần 40 năm , đều không có một lời minh giải )

 

Mẩu bánh ḿ ở góc bàn
Và cốc nước trong như mắt đẹp     


Thôi / để giấc mơ lên cỏ hoa


Hiện h́nh nỗi chết
Từ ngón tay

Hết cả niềm hồn hậu
Người đau bằng màu bằng âm thanh
Những ngày nghèo đói
Ăn mày
Cố sức
/ tiếng cười trên cổ nơn
Tóc mai


Phố nhỏ lên chiều /  măi nhớ thương
Người nhổ muôn ngàn giấc máu ra khỏi ngực


Là tĩnh vật
Kẻ đi ngoài kia la vào mồm
Sống.


                                                           ( Sáng Tạo, số Xuân 1957.)

 

 Bài thơ được viết liền mạch , tôi thử tách ḍng phân đoạn bố cục , và ngắt ư bằng vạch

 nhịp , in đậm những chữ cần chú ư , để khi nh́n vào chúng trong tổng thể bài thơ  , sẽ nhận ra những  mối quan hệ nào đấy :

 

                          Hai câu đầu có thể là bức tranh tĩnh vật , được tả thực với phép so sánh b́nh thường.

 

Mẩu bánh ḿ ở góc bàn
Và cốc nước trong như mắt đẹp     

 

Đến câu thứ ba,  ḍng ư thức hiển lộ nhanh , trực tiếp , pha tạp , đan bện phi logic nhiều

 h́nh ảnh chớp nhoá . Hiện thực bị cắt ra ,  vứt chỗ này một mảnh , chỗ kia một mảnh  , cần phải hàn gắn chúng lại :

Ta h́nh dung ra thế này : Đó là buổi chiều , nơi con phố nhỏ, TTT nh́n thấy (trong ư thức

cuả ḿnh) , những kẻ đi ngoài kia la  lối đ̣i  sống. Đó là những số phận nghèo đói , ăn mày ,  đau thương , nhổ máu ra khỏi  ngực , nỗi chết chực chờ , đă cố sức nhưng không sao thoát khỏi nỗi tuyệt vọng , hết cả niềm hồn hậu. Thôi / để giấc mơ lên cỏ hoa .

 

Ḍng ư thức cứ tuôn chảy .  Những  h́nh ảnh xuất hiện liên tiếp như trong giấc mơ hỗn

độn , không có gốc rễ . Bức tranh tĩnh vật ở hai câu đầu nhập nhoà với thực tại .Cuộc sống đang bày ra trong ḍng ư thức cuả TTT cũng là tĩnh vật . Tại sao lại “ Là tĩnh vật “ , v́ cuộc sống nghèo đói , ăn mày ,  đau thương , nhổ máu ra khỏ ngực , nỗi chết cuả hiện thực miền Nam lúc bấy giờ cứ bày ra đấy  ngày này qua ngày khác , không có ǵ thay đổi , như bức tranh tĩnh vật treo trên tường kia , chỉ từng ấy sự vật , không thay đổi ,  một bức tranh chết .Nỗi bi đát cuả những thân phận người  chính là ở chỗ: cuộc sống là Tĩnh vật , tuyệt không có ǵ thay đổi , dù cố sứcla vào mồm đ̣i sống .” La vào mồm “ là một cụm từ lạ . Đó là h́nh ảnh những con người trong một cuộc đấu tranh xô xát ở ngoài kia ,   ( chẳng hạn trong những cuộc biểu t́nh xô xát với cảnh sát ) ,  mặt đối mặt, sấn sổ vào nhau , mồm sát mồm , gào thét lên như “ la vào mồm “nhau , quyết liệt

 

Trước thực tại “ hiện h́nh nỗi chết , Hết cả niềm hồn hậu ấy “ , Thái độ t́nh cảm cuả TTT là ǵ ? TTT bi thương , phẫn nộ , tuyệt vọng. Thái độ t́nh cảm ấy ẩn dấu trong những h́nh ảnh , những động từ mạnh “ nhổ máu ra , la vào mồm / sống . Nhịp thơ ngày càng ngắn lại , quyết liệt , sau cùng chỉ c̣n duy nhất mộ chữ SỐNG  cuồng nộ bi thương.

 

Phố nhỏ lên chiều /  măi nhớ thương
Người nhổ muôn ngàn giấc máu ra khỏi ngực
Là tĩnh vật
Kẻ đi ngoài kia la vào mồm
Sống.

 

 TTT dành t́nh cảm sâu nặng cho những kiếp người nghèo đói , ăn mày ,  đau thương ,

nhổ máu ra khỏi  ngực , nỗi chết chực chờ , đă cố sức nhưng không sao thoát khỏi nỗi tuyệt vọng  trong thế giới này . TTT đau nỗi đau thân phận thời đại. Giọng thơ buồn sâu thẳm , bi phẫn .

 

Bạn đọc sẽ hỏi , vậy những chữ trong bài thơ tôi chưa nói tới có ư nghiă ǵ ? thực ra đó

là những từ cuả phép ẩn dụ ( so sánh ngầm ) . Nó tạo ra sự phong phú cuả h́nh ảnh thơ , tạo ra sự lấp lánh cuả nhiều lớp nghiă , và có tác dụng gây nhiễu với kiểu đọc  logic . Hiểu được chúng cũng được , bỏ qua cũng không sao , cái chính là nắm cho được ḍng ư thức cuả TTT , nhận cho ra cái  hiện thực TTT đang đối diện và đào xới cho được cái mạch ngầm t́nh cảm ẩn trong con chữ tưởng như trơ trơ . Đồng thời phải vượt qua đuợc nhiều bước liên tưởng cuả câu chữ ẩn dụ để t́m đến cái nguồn TTT muốn nói . Nhưng yêu cầu quan trọng là  người đọc phải nhập đuợc vào ḍng ư thức cuả TTT .

 

Chẳng hạn câu Và cốc nước trong như mắt đẹp . Cốc nước trong là yếu tố thực được

miêu tả  . Cụm từ so sánh “ như mắt đẹp “ chỉ tôn thêm cái trong cuả cốc nước và tạo thêm cái lạ trong cách so sánh, hiểu hay không hiểu chẳng thêm ǵ cho yếu tốc chính là  cốc nước trong ‘. Câu    Phố nhỏ lên chiều  măi nhớ thương” phải được ngắt ra làm hai ư : ‘Phố nhỏ lên chiều /  măi nhớ thương” . Bối cảnh suy tư cuả TTT là phố nhỏ , có thể là chiều đă lên  . Trong bối cảnh ấy TTT thấy ḷng ḿnh măi nhớ thương . Câu thơ tiếp nối ḍng ư thức là “ Người nhổ muôn ngàn giấc máu ra khỏi ngực có thể là TTT nh́n thấy trong ư thức nhiều người đang ngủ ( muôn ngàn giấc ) đấy là những con người khốn khổ , lao lực kiệt sức ( nhổ máu ra khỏi ngực ) . Phép ẩn dụ tạo nên nhiều liên tưởng  , nhờ vậy câu thơ đa nghiă , đồng thời có cả thái độ bi phẫn cuả TTT .

 

                        Miêu tả ḍng ư thức , đem vào thơ những giấc mơ hoang tưởng siêu thực , sử dụng những kỹ thuật  xáo trộn ngôn ngữ , rơ ràng TTT chịu ảnh hưởng những trào lưu hiện đại phương Tây , đó là bước cách tân cuả TTT. Nếu nói TTT cách tân thơ ca th́ chính là kỹ thuật này , ở TTT đó là một kiểu tư duy nghệ thuật , một thi pháp

 

ai hỏi anh ngoài hàng dậu

                                               lăng mạn lập thể siêu thực dă thú đa đa

                                                                                                         ( Chim )

                       Hiển nhiên các trào lưu hiện đại đang mời gọi TTT  . Trước các trào lưu Lăng mạn , Lập thể , Siêu thực , Dă thú , Đa đa  , TTT chọn thái độ nào ?

 

Hồn nhiên tôi trở thành thi sĩ ca dao

                                                     ( Mưa Ngủ )

không đa đa siêu thực

thẳng thắn

khởi từ ca dao sang tự do 

                                                                                   (   Một Bài Thơ )

 

                        Nhưng TTT đă không trở thành thi sĩ ca dao như ông muốn vậy. Ông không có được những bài Lục bát hay . Bài Xuân Ca đăng báo Dân Chủ ở Saig̣n 1957 là một bài Lục bát hiếm hoi . TTT chỉ  làm thơ tự do  theo các trào lưu hiện đại . TTT cho rằng : “ Thơ bây giờ là một sự xáo trộn ngôn ngữ. Ta phải ghi nhận công của phái siêu thực Tây phương đối với ngôn ngữ. Tôi làm thơ, ngoài mối ám ảnh chung về tư tưởng đức lư nói trên, c̣n theo đuổi một mối ám ảnh về ngôn ngữ. “

 

 Điều này khác xa với Bùi Giáng . Bùi Giáng triệt để phủ định ănh hưởng trào lưu

phương Tây . "Chúng ta quen thói ngong ngóng chạy theo đuổi mọi thứ trào lưu chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không c̣n giữ một chút tinh thể cỏn con nào cả để thể hội rằng lục bát Việt Nam là cơi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba bảy sông hồ." (6)

                        Điều lạ lùng là cả hai nhà thơ , dù rất khác nhau về quan điểm , lại từng là bạn cuả nhau và đă có những đóng góp đặc biệt làm mới thơ ca Việt Nam . Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng đă là những phong cách nghệ thuật độc đáo , những cá tính sáng tạo nổi bật  trên thi đàn miền Nam Việt Nam nưả sau thế kỷ XX , mà những thế hệ sau có muốn học tập cũng không dễ ǵ vượt qua được.

 

II. Hoàng đế cô độc

 

                        Sau khi đă vượt qua những luật lệ và nhập được vào lănh điạ  thơ cuả Thanh Tâm Tuyền , chúng ta hăy đến thăm vị hoàng đế và dạo quanh lănh thổ cuả người , để t́m kiếm , và may ra , t́m thấy  kỳ hoa dị thảo , t́m thấy những suối nguồn tươi mới  , và t́m thấy một tân thế giới  chưa từng ai đặt chân đến chăng ?

 

                        Trên hành tŕnh sang tạo cuả ḿnh TTT người bộ hành cô đơn ( Chim ) , người nghệ sĩ đơn độc ,  Người ư thức sâu sắc và quyết liệt thân phận cô độc . Cô độc , buồn sầu trong sự chọn lưạ con đường thơ , chọn lưạ làm một tên hề buồn nhất thế giới.

 

    Như kẻ say rót rượu lấy mà uống
Cho vui thêm cuộc hành tŕnh
( Đúng rồi những người thù ghét thơ tôi ơi )
Cuộc hành tŕnh hoàn toàn cô độc.

                                      ( Bao Giờ )

 

                               Mày chỉ là tên hề buồn, tên hề buồn nhất thế giới chẳng làm ai cười nổi.

                                                                                                                                     ( Sầu Khúc )

            TTT  cô độc trong ư  thức hiện sinh ,  sợ hăi cả cây cột đèn , hoang vu lạnh lẽo và trần trụi ,  trong tâm trạng  một người sống sót ( Cỏ ) , thường trực đối diện ám ảnh cuả sự nỗi chết ôm gh́ , chết đuối , bóp cổ chết , súng bắn vào đầu đạn nổ nhịp ba , cuả biển đen sầu hận , cuả  hư vô không cùng

 

Anh sợ những ngôn ngữ bơ vơ

Sau những chiều động băo

Những ngày kín sương mù

niềm hắt hủi

Khói tím buồn

hàng thân cây cô đơn như ḿnh anh

vùi hận sầu đen tối

Chôn xuống đáy biển sâu

chiều dốc lạnh

Con đường duỗi dài cánh tay người chết đuối

thành phố bỏ trốn

Em có thấy hư vô đắp dưới mền tóc dày

                                         ( Bài Hát Buồn )

 

Trong nỗi cô độc ấy , TTT khao khát  xẻ chia , dù trái tim đă thành ḥn đá vô tri tĩnh mịch rỗng tuếch

 

Bạn bè chia tay ném bỏ lại cô đơn

Một ḿnh anh mang nặng

Và chua cay

Vùng biển đen

Mùa hè thiêu đốt cả cô đơn

Em biết không? Em biết không? …

                                        ( Sầu Khúc )

Ḥn đá vô tri tim tĩnh mịch

Biết ǵ về t́nh yêu , anh , đâu biết ǵ về t́nh yêu

 

Đi đâu ? Em đâu ? Đây một ḿnh anh

Một ḿnh anh tôi mọi lũ một ḿnh

Hoang vu phập phồng trong trái tim rỗng tuếch

( Tặng Vật -1962-1963 )

                        TTT  cô độc giưă quê hương đoạ đày

Tôi ngồi khóc bên bờ sông trôi măi

Em bỏ đi

Những người thân nhất đều hắt hủi

Giữa xứ sở đau thương tôi chịu đoạ đầy

                                                                                          ( Về Quách Thoại )

 

                        TTT nói Tôi Không C̣n Cô độc , và dù đă T́m Thấy Mặt Trời trong Đêm, nhưng suốt hành tŕnh thơ , TTT ngày càng cô độc và tuyệt vọng

 

Bị xua đuổi khỏi nơi trú ngụ
Hắn làm tên du thủ vong t́nh
Cùng xứ sở mắc ṿng khốn đọa
Trên hoang phế sau đêm thảm họa

                                         ( Hắn Rũ Bỏ Kư Ức Và Ra Đi)

    Căn nguyên cuả nỗi cô độc hiện sinh ấy là ǵ ?

    Ta phải t́m câu trả lời trong bối cảnh thời đại TTT đang sống . Đặng Tiến cho rằng :

“ Về nội dung chính yếu, chất liệu trong thơ văn Thanh Tâm Tuyền là ư thức thất bại. Thất bại của con người trước định mệnh nói chung, cụ thể là sự bất lực của giai cấp trí thức tiểu tư sản Việt Nam trước thời cuộc. Viết văn, làm thơ, làm nghệ thuật nói chung, là cố gắng vượt qua sự thất bại đó, biến nó thành nghệ thuật. “(7) .Nói như vậy phải chăng cũng đồng nhất TTT với những nhà thơ nhà văn Lăng Mạn 1930-1945. Họ là những trí thức tiểu tư sản thất bại trong chính trị ( chẳng hạn Nhất Linh , Khái hưng .. ) , t́m vào văn chương như một phương cách thoát ly , như một sự tự lưà mị chính ḿnh ?

 

                        Trường hợp TTT , theo tôi là khác. Bối cảnh thời đại TTT sống đă khác rất xa bối cảnh xă hội Việt Nam trước 1945. TTT sinh năm 1936 , đến khi toàn quốc kháng chiến chống Pháp 1946, ông mới 10 tuổi.  Theo Đặng Tiến (8) , những năm 1950  , ông hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Hà Nội, cùng với những người sẽ trở thành bạn văn nghệ về sau: Doăn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế ...Sau kháng chiến , đất nước chia đôi , ông vào Nam . Tại Sài G̣n, 1955, ông viết cho các tuần báo Dân Chủ, Người Việt , tham gia biên tập báo Sáng Tạo (1956-1960) do Mai Thảo đứng tên, và ông thường được xếp vào «nhóm» Sáng Tạo .  1962, bị động viên vào Trường Sĩ quan Thủ Đức, được giải ngũ, rồi tái ngũ, phụ trách chủ yếu việc huấn luyện văn hoá,  «tám năm quân ngũ chưa nổ một phát súng với địch» (1972), cấp bực cuối cùng là đại uư. Sau 1975, ông bị bắt đi học tập, gần mười năm, tại nhiều trại cải tạo miền Bắc. Sau

khi  ra trại ông sang định cư tại Hoa Kỳ từ đầu thập niên 1990.

 

Miền Nam những năm sau 1954 , và nhất là từ 1963 trở đi , là một xă hội đầy biến động , đầy  âu lo. Chiến tranh ngày càng ác liệt , nỗi chết trở thành ám ảnh thường trực . Sự sụp đổ , sự băng hoại , sự tan ră là không tránh khỏi  . Nỗi tuyệt vọng bao trùm , phủ lấp những tṛng mắt thâm u , tiềm ẩn trong từng hơi thở . TTT không tránh khỏi hoàn cảnh và tâm trạng này. TTT ch́m trong ư thức Hiện sinh .Ông không có một lư tưởng để vươn tới , để dấn thân , để cuộc sống có nghiă . Ông không có niềm tin  tâm linh để có thể vác lấy thập giá định mệnh mà vượt qua , ở thời đại cuả ông thượng đế đă chết

( Nietzsche ). Ông cũng không có đủ Bi ,Trí, Dũng  cuả một bản thể tự tại để đương đầu với sóng cuồng băo động , và quan trọng là ông không có được quan hệ máu thịt với dân tộc và cội nguồn để trở về ,

Giữa quê hương ngoảnh mặt làm ngơ  Không c̣n nơi chốn nào thân thiết” , đắm giạt Làng-quê Không-có-đâu” . Ông sống không có  niềm tin , dù “ đôi khi anh muốn tin( Lệ Đá Xanh ) để rồi sau cùng lại ra đi ,  xa lánh lặng lẽ đ́u hiu khuất lấp.

 

                                             Đi    Xa lánh   Như người xưa
lặng lẽ điềm nhiên rảo gót về                   
bên triền lũng khuất nắng quái hoặc
Đạm bạc chiếc bóng đ́u hiu
  

                                                                         ( Chia Tay – 1990 )  

                     Nỗi buồn sâu thẳm trong tất cả những bài thơ cuả TTT là nỗi buồn cuả hiện sinh quy tử ,

cái chết vội vàng , cái chết tan tành không cưỡng lại được . Cũng là nỗi buồn trước thực tại đất nước .Ông dùng  h́nh ảnh ẩn dụ để nói về thời đại ḿnh .Ông không dám nói thật sự tàn bạo cuả nỗi chết . Ông  che dấu sự bộc lộ trực tiếp những nghĩ suy về thời cuộc , che dấu sự bi đát thân phận , che dấu  ḿnh để khỏi bị trả thù bởi móng vuốt bóng đêm .Ông  trốn chạy ,ông buông xuôi “ bập bềnh lả theo trời “, mặc định mệnh . Không có tương lai , không có ánh sáng  , chỉ có hoang vu lạnh vắng , chỉ có sợ hăi đớn đau ôm gh́ ,chỉ có những hoảng loạn đớn hèn đe doạ được vẽ ra bằng những h́nh ảnh ẩn dụ : xứ sở mắc ṿng khốn đọa ,  trên hoang phế sau đêm thảm họa , giông băo ,  mùa đông dài ác nghiệt, núi nhọn , lưả cháy,  biệt ly , đau thương đoạ đày ,nhục nhằn , chó dữ , những con chó sói , con mắt đen đen đen , tṛng mắt ma quỉ soi,   rượt bắt , chập chùng hố huyệt, hấp hối , nỗi chết ,..

Tôi chờ đợi

lớn lên cùng giông băo

Đất nước có một lần

tôi gh́ đau đớn trong thân thể

những gịng sông những đường cầy núi nhọn

những biệt ly rạn nức

 

Tôi chờ đợi

phổi đầy lửa cháy

môi đầy thẹn thùng

vục xuống nhục nhằn tổ quốc

                 ( Bài Ca Ngợi T́nh yêu )

sợ chó dữ

con chó đói không màu

này một con chó sói

thứ chó sói lang thang

                             ( Phục sinh )

                                              Anh sợ những cột đèn đổ xuống

                                                Sao tuổi trẻ quá buồn …

                                                anh đưa em đi trốn

                                                những dày ṿ ngày mai

                                                                        ( Dạ Khúc )

Mày gặp mày không nh́n nổi ra mày trong bờ bụi

Cơn rượt bắt cuồng cơn hấp hối ngu xuẩn  ở trong luồng thôi thúc dữ

Linh hồn cuả con mắt đen đen đen và sáng như cơn mưa rào đầu muà

Mày ở trong mày hai chân lún và ẩn náu

Và đêm ngă vấp và ngày vỡ toang…

 

                              Mày c̣n tấm tặng phẩm , tấm tặng phẩm đớn hèn trên tấm thân mang hiến

                             Cái chết vội vàng như quả rục cái chết tan tành như tiếng kêu.

                                                                                                           ( Tặng Phẩm -1962,1963 )

Mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện

Ḷng ta lạnh vắng như cỏ cây…

Như phiến gỗ nặng thả theo nước

Bập bềnh trôi nổi ta về xuôi

Như lau lách mọc chen bờ băi

Phất phơ tóc bạc lả theo trời.

                   ( Đỉnh Non Xa -Giai phẩm Văn 3.9.1974)

 

                       TTT ôm ghi lấy đất nước đau thương , cùng chia xẻ ṿng khốn đoạ với xứ sở , cùng vục xuống nhục nhằn tổ quốc , cùng xớt chia nỗi chết với bao người , c̣n hy vọng “rằng anh c̣n trở về/ rằng anh c̣n người yêu . Trong nỗi bi thương thê thiết ấy  Thái độ chính trị cuả TTT là ǵ ?  TTT thấm thía thân phận một dân tộc nô lệ (  Đen ). Thời ấy , người trí thức miền Nam nào cũng đau nỗi đau tủi nhục về thân phận nhược tiểu cuả “ người nô lệ da vàng “ ( chữ cuả Trịnh Công Sơn ) .TTT đứng về phiá những người vô tội chối từ khí giới, phản đối chiến tranh ,  chiến tranh c̣n những khoảng trống đất hoang ( Chim ), khao khát hoà b́nh , khao khát một ngày yên vui , đất nước trổ hoa,  người người mừng vui , Hà nội Huế Saig̣n ôm lấy nhau nức nở

 

Nhịp ba

Sóng bồi phù sa

Ruộng lúa trổ hoa

Núi cao uốn cây rừng

Nhịp ba nhịp ba nhịp ba

T́nh yêu tự do măi măi

Đất nước ào ào vỗ nhịp

Triều biển chập chùng

Hà Nội Huế Sàig̣n

Ôm nhau nức nở

                                                                ( Nhịp Ba )

 

Người đọc nghe trong thơ TTT  nhịp đập cuả một trái tim yêu nước không gọi rơ tên , tuy

sâu thẳm nhưng mơ hồ , bởi v́  trước 1975 đất nước c̣n bị chia đôi , đất nước ông nói đến là miền nào ? Không , đó là một  đất nước trong thể thống nhất , TTT nh́n thấy  Đất nước ào ào vỗ nhịp / Triều biển chập chùng / Hà Nội Huế Sàig̣n / Ôm nhau nức nở”

 

Trong viễn cảnh ấy , dường như TTT đă thức tỉnh ? TTT  trở về sự thật , “Rưả sạch mặt mũi lem luốc chùm ảo vọng  “ ,  tự “ bóp cổ  chết gục”  để phục sinh

 

Tôi đứng đấy như con công tôi múa

xoè bộ mă đời ḿnh nũng nịu

như trên chót đỉnh khoe khoang

Tôi đứng đấy những tơ giăng phù phiếm

con nhện rớt hoài

trong màng lưới rách bung

của lời đong đưa trắc nết

                                  ( Thầm Nhủ - 1969 )

 

Tan rồi trái cầu không tưởng

Cuộc phiêu lưu chết sững chốn vô cùng

                                ( Tặng Phẩm- 1962,1963 )

 

tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ

trong sạch như một lần sự thật.

                                   ( Phục sinh )

 

Linh hồn phục sinh cuả TTT đă ánh lên một chút , ( chỉ một chút thôi v́ nó ẩn mật ) nỗi

đau  với những con người đau khổ , với quê hương đất nước . Tâm hồn ấy dường như cháy bỏng khát vọng tự do  . Lúc đầu thơ ông vang lên tiếng ca ngợi  tự do chính trị  , sau đó là chuyển sang tư tưởng cuả tự do Hiện Sinh , nhưng TTT chưa buớc chân vào được chân trời tự do hiện sinh ấy , thơ ông chưa đạt tới tầm vóc cuả thơ tư tưởng .Người đọc chỉ thấy thấp thoáng những tín niệm cuả chủ nghiă Hiện Sinh như buồn nôn , tự do ( La Nausée- J.P .Sartre ) ; kẻ xa lạ ( L’Etranger-A. Camus ) ;  sự đánh mất đức tin

( “Thượng đế đă chết “- Nietzsche )  . TTT muốn thơ ḿnh  là tiếng nói là tiếng khóc  cuả những con người vô tội yêu tự do,  là tiếng thơ là tiếng cười cuả Việt Nam ngày mai , nhưng sẽ chẳng bao giờ TTT đạt được uớc nguyện ấy . Đó là tất cả bi kịch cuả TTT .

 

Anh nhớ em cùng một lúc với thành phố

với những con đường anh đi qua một lần

anh nâng niu cuốn sách nói đến cách mạng

nói đến người  tâm hồn trái tim tự do

                         ( Liên , Những bài thơ t́nh thời chia cách )

Nhịp ba

T́nh yêu