Du Ca Việt Nam

GIỚI THIỆU
TRĂNG HUYẾT



Gồm có:

1. Lời giới thiệu trên Tạp chí Thế kỷ 21 tháng 7.2004
2. Lời nói đầu của Anthony Grey
- Bản tiếng Việt
- Bản tiếng Anh
3. Lời giới thiệu của Nguyễn Minh Diễm
4. Lời bạt của Hoàng Khởi Phong
5. Đài Á Châu Tự Do (RFA) Phỏng vấn Nguyễn Ước
6. Sơ lược cốt truyện

1. Lời giới thiệu trên
Tạp chí Thế kỷ 21 tháng 7.2004

TRĂNG HUYẾT
của
Anthony Grey & Nguyễn Ước
trường thiên tiểu thuyết
Năm 1925, cậu bé Mỹ Joseph Sherman mới 15 tuổi đặt chân tới Sàigòn lần đầu rồi gắn bó đời mình vào dòng lịch sử nghiệt ngã của dân Việt suốt 50 năm cách mạng và chiến tranh. Từ đó khởi sự truyện dài TRĂNG HUYẾT với các nhân vật chủ yếu từ bốn gia đình: —Nathaniel Sherman, người Mỹ, thượng nghị sĩ —Jacques Devraux người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám —Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ Nam kỳ— và Ngô văn Lộc, người “bồi” của J. Devraux, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.
Trung tâm truyện là mối tình buốt nhói của Joseph với Kiều Lan, một thiếu nữ xinh đẹp và thùy mị, con của một thượng quan địa chủ. Hệ lụy của cuộc tình ấy cuốn Joseph vào những xung khắc cay đắng của người Việt từ gia đình đến xã hội và khắp nước với các cuộc khởi nghĩa đẫm máu, chiến tranh huynh đệ tương tàn trong bối cảnh đấu tranh giải thực rồi bị hút vào vòng quay chiến tranh lạnh.
Không gian truyện là ba miền đất nước trải rộng tới Paris, Washington và miền nam nước Anh . Thời gian truyện kéo dài suốt bốn thế hệ; từ những ngày Phápỉ đàn áp tàn bạo các phong trào chống thuế của nông dân, khởi nghĩa của VNQDĐ, Sô viết Nghệ Tỉnh, hành tung của Hồ Chí Minh, nạn đói Ất Dậu, tới trận đánh Điện Biên Phủ, vụ ám sát Ngô Đình Diệm, biến cố Mậu Thân, và sau cùng, cuộc thất thủ Sàigòn 1975,v.v.
Người đọc sẽ tìm thấy trong TRĂNG HUYẾT diễn tiến lịch sử VN với những biến cố được nghiên cứu kỹ, những phát hiện mới và tái hiện sát thực tế. Lồng trong tình cảnh chính trị oan khiên, khí hậu nhiệt đới sinh động và cảnh sắc đẹp như tranh vẽ là các nhân vật tiểu thuyết sống chất ngất đam mê và hận thù, lý tưởng hay cơ hội, chân tình hoặc ngộ nhận, cam kết hay lừa lọc, xác quyết hay hay ngụy tín... gắn bó thân phận mình vào vận nước và các nhân vật lịch sử trong các phong trào khởi nghĩa, vận động duy tân, đảng tranh và chống Pháp, nguyên ủy chọn lựa và thảm kịch đối đầu quốc cộng từ cuối thời quân chủ tới các chế độ cộng hoà Nam Bắc qua hai cuộc Chiến tranh Đông Dương, với vết chân của các đạo quân Pháp, Nhật, Anh, Hoa và Mỹ.
Sự kết hợp làm nên bộ truyện này là một hiện tượng độc đáo. TRĂNG HUYẾT là bản tiếng Việt do Nguyễn Ước chuyển ngữ, bổ túc và tái chế dựa trên bản tiếng Anh SAIGON của Anthony Grey. SAIGON được xuất bản tại Bắc Mỹ năm 1982 - sáu năm trước khi A. Grey tới VN lần đầu. Lúc ấy, nó được đánh giá là cuốn tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất về Chiến tranh VN và thành sách bán chạy. Hai mươi năm sau, SAIGON được Ng. Ước chế tác thành TRĂNG HUYẾT, với sự đồng tình của A. Grey.
Theo Ng. Ước, từ nhan đề SAIGON, thành phố định mệnh trong cuộc đời và tâm tưởng của nhân vật chính Joseph, ông đổi thành TRĂNG HUYẾT, trăng đỏ như máu, báo điềm và làm chứng cho nửa thế kỷ ly loạn đau thương trên khắp đất Việt, từ bắc chí nam. Ông giữ nguyên cốt truyện, nhiều tình tiết và diễn biến tâm lý của SAIGON khoảng 600 trang rồi thêm vào phần bối cảnh lịch sử, nhiều nhân vật phụỉ và viết chêm vào cũng khoảng chừng ấy trang, để chính đính; đào thật sâu tâm lý của các nhân vật người Việt; bổ túc nhiều chi tiết về hoàn cảnh chính trị, khuynh hướng cách mạng bản địa và thời đại, sự kiện lịch sử, nghi lễ cung đình, phong cảnh, nếp nghĩ, tục lệ, các giáo phái và văn hóa dân tộc,v.v. Và ông cố gắng nói lên Việt tính của nhân vật và sự kiện, cùng trình bày sao cho hợp với cảm quan của người đọc. A. Grey đưa ra cái nhìn của người ngoài cuộc, chủ yếu dành cho độc giả phương tây thưởng lãm, còn Ng. Ước nỗ lực trình bày nỗi lòng của người trong cuộc, với kỳ vọng hiệp thành một tác phẩm đa diện cho độc giả người Việt, trong ý hướng góp phần xoá ngộ nhận, giải hận thù, để cùng cứu chữa và sống hòa hợp.
A. Grey là nhà văn và ký giả người Anh bị biệt giam hai năm tại Bắc Kinh trong cuộc Cách mạng Văn hoá giữa thập niên 1960. Rời nhà giam, ông được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ, và sau đó, ông thực hiện chương trình thế giới hằng ngày cho Đài Truyền hình BBC. Ng. Ước vốn gốc nhà giáo và chuyên viên phát triển xã hội. Trước lúc vượt biển năm 1989, ông phiêu dạt khắp nam bắc, mưu sinh bằng nhiều nghề. Định cư tại Toronto từ năm 1991, ông làm tác viên cộng đồng và viết văn. Mỗi tác giả đều đã xuất bản trên 10 cuốn sách và được đánh giá cao. Theo Ng. Ươc, vì trong TRĂNG HUYẾT, phần sáng tác của hai tác giả quyện chặt vào nhau nên có thể xem tác giả đã biến mất, chỉ còn lại tác phẩm là cái duy nhất dành cho độc giả bình tâm thẩm định.
Trước khi in thành sách, TRĂNG HUYẾT đã được đăng gần ba năm trên Tuần báo Thời Báo Toronto,với 14.500 ấn bản mỗi kỳ, thu hút đông đảo độc giả và được nhiều người xem là một loại “Chiến Tranh và Hoà Bình” bằng tiếng Việt. TRĂNG HUYẾT cũng được trích đăng trên Diễn Đàn talawas, Văn, Đi Tới, Làng Văn, Thư Quán Bản Thảo, v.v.
Có thể liên lạc với tác giả tại:
— Nguyễn Ước, 532 Dufferin St. Toronto, ON.Canada M6K 2A7. ĐT (416) 539-9547 email: nguyenuoc@yahoo.com
—Anthony Grey, www.tagman-press.com


2. LỜI NÓI ĐẦU
Anthony Grey

Thư gửi bạn đọc Trăng Huyết
do Kiến Văn xuất bản lần thứ nhất năm 2005

Trong mùa hè năm 2004, một người bạn Việt Nam trẻ tuổi của tôi hiện học tại Anh đã đọc Trăng Huyết, bản phóng tác bằng tiếng Việt. Cô đối chiếu các phần của cuốn ấy với cuốn tiểu thuyết nguyên bản SAIGON của tôi, là cuốn hình thành cái lõi cốt yếu của tác phẩm khuếch đại và mới của người bạn đồng tác giả Nguyễn Ước. Vì tôi không biết và không đọc được tiếng Việt nên lúc ấy, tôi không có ý niệm về những gì Nguyễn Ước đã làm đối với bản văn của tôi. Trước khi thực hiện tác phẩm ấy, anh không tham khảo ý kiến tôi, cũng không tìm cách xin phép tôi cho tới khi anh đã hoàn tất. Thậm chí khi viết thư này, tôi vẫn không biết thật cặn kẽ những gì chứa đựng trong 400 trang mà anh thêm vào — ngoài việc biết rằng những thay đổi trong giai đoạn sau năm 1945 thì nhiều hơn trong phần đầu của cuốn truyện.
Trước đây, tôi biết qua lời của chính Nguyễn Ước giải thích với tôi rằng anh nồng nhiệt tin tưởng cuốn tiểu thuyết của tôi với những đoạn thông tin và diễn dịch do anh thêm vào là ‘bộ tiểu thuyết Chiến tranh và Hoà bình mà người dân Việt Nam đang trông đợi’. Trong lần liên lạc thứ nhất, anh nói với tôi rằng anh cảm thấy nó có sức mạnh ‘hòa giải và giải phóng’ người dân Việt Nam khỏi những xung khắc thời quá khứ. Nhận thấy mình xúc động bởi niềm xác tín đó, tôi bất giác quyết định không chống lại cũng như không phản đối tức thời việc Nguyễn Ước đã làm.
Tuy thế, tôi cảm thấy nhẹ nhỏm khi người bạn sinh viên Việt Nam trẻ tuổi tại Anh ấy nói với tôi rằng cô rất xúc động qua những gì cô đã đọc. Cô nói, ‘Tôi xin cám ơn ông đã viết cuốn sách này. Tôi đã biết được rất nhiều về xứ sở và dân tộc của tôi mà trước đây tôi chưa hề biết. Tôi nghĩ rằng giá trị lớn lao nhất của cuốn truyện này là nó bảo tồn ký ức lịch sử cho những thế hệ mới của người Việt trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Tôi cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết rất quan trọng cho dân tộc Việt Nam — và cũng cho mọi người khác nữa.’
Vào năm 2005 này, ba mươi năm sau ngày Sàigòn thất thủ, dường như thế giới của chúng ta đang là chốn nguy hiểm hơn bao giờ hết. Cuộc chiến tranh cay đắng ở I-rắc do người Mỹ khởi động xâm lăng đầu năm 2003 đang ngày càng bị so sánh với cuộc chiến tranh Việt Nam trong hai thập niên 1960 và 1970. Dù sao, khủng bố và giết chóc vì lý do tôn giáo và chính trị đang lan rộng toàn cầu hơn bao giờ hết.
Dường như toàn thể hành tinh của chúng ta hiện sống với trạng thái đề phòng hằng ngày sẽ có thêm một hành động “khủng bố” tập thể nữa. Trong tình huống ấy, điều quan yếu là những người mà số lượng ngày càng nhiều thêm trên thế giới, đang mãnh liệt khao khát chấm dứt vĩnh viễn toàn bộ chiến tranh và tàn sát, nên tin rằng có những lý do để cảm thấy mình được khích lệ. Đối với tất cả chúng ta, điều quan trọng là có những nền tảng để tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn và để không bị ám ảnh bởi sợ hãi.
Ở cấp độ cao nhất, mục đích tái bản cuốn trường thiên tiểu thuyết khuếch đại [Trăng Huyết] này về những cuộc chiến lâu dài và cay đắng tại Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20 là để nhắc nhở chúng ta thảm kịch kinh hoàng và vô ích của mọi cuộc chiến, cách riêng các cuộc chiến xuẩn động. Cả Việt Nam lẫn I-rắc đều rơi vào bản liệt kê buồn bã đó. Mọi người đều đau khổ trong các thời kỳ bi thảm như thế và chẳng một ai thật sự chiến thắng. Chiến tranh biến hết thảy chúng ta thành nạn nhân. Lúc này, điều quan yếu cho thế giới của chúng ta là tiến tới một trạng thái sinh tồn trong đó chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề giữa các dân tộc và các quốc gia mà chẳng cần tới bạo động và giết chóc. Cũng quan yếu không kém là việc chữa trị những vết thương khủng khiếp về tâm lý và thể lý của quá khứ, để giúp tạo dựng một tương lai hòa bình và tốt lành hơn cho tất cả chúng ta.
Khi cuốn SAIGON được xuất bản lần đầu năm 1982, tôi ngạc nhiên và vui thích thấy nó trở thành sách bán chạy ở tầm quốc tế tại 15 nước, bằng chín ngôn ngữ khác nhau. Thật rất hài lòng khi tại Việt Nam và Hoa Kỳ, nó được dùng trong lớp học để dạy dỗ các sinh viên sĩ quan trẻ tuổi của hải quân và quân đội — Đại học Quốc phòng của Quân đội Nhân dân tại Hà Nội và Học viện Hải quân Hoa Kỳ tại Anapolis. Nguyễn Ước đọc cuốn tiểu thuyết ấy lần đầu tiên bằng tiếng Anh lúc anh tới được trại tị nạn ở Indonesia sau khi trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền vào cuối thập niên 1980. Anh kể rằng anh đã khóc khi đọc nó hết phần này sang phần khác. Mãi về sau, anh quyết định dịch và tự chủ xướng việc khuếch đại vì anh cảm thấy cuốn truyện ấy, với sự thêm vào các sự kiện lịch sử cùng hư cấu nào đó của anh như một ‘kẻ trong cuộc’, sẽ khiến độc giả người Việt nhận ra rằng ‘sự thật giải phóng chúng ta và hoà giải chúng ta.’
Như đã nêu rõ, tôi quyết định cứ tin vào sự bảo đảm mà Nguyễn Ước đã viết cho tôi, rằng anh không ‘phản bội’ hình thức và dự phóng trong cuốn tiểu thuyết nguyên bản của tôi. Tôi phải bảo lưu quyền thẩm định đầy đủ và có cân nhắc cho tới một thời điểm tôi biết chính xác từng chữ những gì anh đã viết. Trong lúc này tôi đang đi theo con đường riêng của mình để SAIGON được dịch riêng biệt ra tiếng Việt, đúng chính xác những gì tôi viết mà không có bất cứ thêm thắt nào, và để cho nó được xuất bản công khai bởi một nhà xuất bản của người Việt tại Việt Nam. Như tôi đã viết vào tháng Chạp năm 2004, hiện ở Hà Nội đang có những thảo luận bước đầu về việc đó, nhân danh tôi, và chưa có kết quả rõ ràng. Tuy thế, tôi không biêát việc xuất bản ấy sẽ xảy ra sớm hay muộn — hoặc quả thật bao giờ.
Rõ ràng Nguyễn Ước đã hết lòng với đam mê, lý tưởng và nghị lực để viết nên Trăng Huyết. Nếu anh ấy có lý và cuốn sách này có thể đóng góp đầy ý nghĩa để chữa trị và hòa giải các vết thương quá khứ, thì bằng những cách thức nhỏ bé, một tương lai hoà hợp hơn sẽ bắt đầu để làm nổi bật dân tộc Việt Nam — và việc đó chắc chắn dẫn tới kết quả là sẽ làm xúc động người dân của các quốc gia khác. Lúc ấy, mọi nỗ lực cần cù của Nguyễn Ước sẽ đáng giá. Dù xảy tới tình huống nào đi nữa, tôi vẫn ca ngợi hoài bảo, sự tự phát, những lao động tận tụy của anh và mong anh ấy gặp may mắn.
Sự ngưỡng mộ và mến cảm của tôi đối với Việt Nam và dân tộc can trường cùng độc đáo ấy ngày càng tăng kể từ khi tôi bắt đầu nghiên cứu và viết cuốn SAIGON. Sự tái tục dính líu tới Việt Nam được gây ra bởi sự xuất hiện nổi bật của Trăng Huyết và việc tái bản tại Anh ấn bản mới cuốn SAIGON bằng tiếng Anh vì thế đang là nguồn khoái cảm lớn lao cho tôi. Vậy tôi xin cám ơn tất cả những ai quan tâm và chúc cho tất cả những ai đang đọc các trang này một hoà bình lâu dài và sự hòa hợp ngày càng tăng trong cuộc sống hằng ngày.

* Bản dịch của Nguyễn Ước.

Nguyên văn tiếng Anh

FOREWORD

A message to readers of the first
2005 Kien Van edition of Trang Huyet

from
Anthony Grey


A young Vietnamese friend of mine now studying in England read the new augmented Vietnamese text of Trang Huyet during the summer of 2004. She compared parts of it to my original English novel SAIGON, which forms the core and essence of this new expanded work by fellow co-author Nguyen Uoc. Since I do not speak or read Vietnamese, I had no idea then what Uoc had done to my text. He did not consult me before he did the work nor seek my permission until after he had finished. Even as I write this message I still do not know in great detail what is contained in the extra 400 pages he has added — except that there are more changes in the period after 1945 than in the first half of the story.
I knew from his own explanation to me that Uoc passionately believed that my novel with his added passages of information and interpretation was ‘the War and Peace novel that the people of Vietnam have been waiting for.’ He told me in his first communication that he felt it had the power to ‘reconcile and free’ Vietnamese people from the conflicts of their past. I found myself moved by this conviction and decided on an impulse not to oppose or take any immediate exception to what Uoc had done.
I was, however, relieved when the young Vietnamese student in England told me she was very moved by what she had read. ‘I would like to thank you for writing this book,’ she said. ‘ I have learned so much about my country and its people that I never knew before. The story’s greatest value, I think, is that it preserves historical memories in a rapidly changing world for new generations of Vietnamese. I think it is a very important novel for the people of Vietnam – and everybody else too.’
In the year 2005, thirty years after the fall of Saigon, our world seems to be a more dangerous place than ever before. The bitter warfare in Iraq triggered by the American inspired invasion of early 2003 is being compared increasingly with the Vietnam war of the 1960s and 1970s. In any event terrorism and killing for political and religious reasons is more widespread globally than ever before.
The whole planet, it seems, now lives daily in anticipation of some new massive ‘terrorist’ outrage. In these circumstances it is vital that the growing number of people around the world who are wishing fervently for a permanent end to all warfare and carnage should believe there are reasons to feel encouraged. It is important for us all to have grounds for trusting in a better future and not become haunted by fear.
The purpose at the highest level of republishing this expanded novel about the long and bitter wars in Vietnam in the second part of the twentieth century is to remind us of the terrible and futile tragedy of all wars, particularly ill-judged wars. Both Vietnam and Iraq fall into that sad category. Everybody suffers in such tragic times and nobody truly triumphs. War makes us all victims. Now it is vital for our world to move forward to a state of being in which we can solve all problems among peoples and nations without recourse to violence and killing. It is equally vital to heal the terrible physical and psychological wounds of the past to help create a better peaceful future for us all.
SAIGON when first published in 1982 to my surprise and delight became an international bestseller in 15 countries and nine languages. Very gratifyingly it has already been used in classrooms in Vietnam and in the United States for educating young army and navy officer cadets – The Peoples Army Defence University in Hanoi and the American Naval Academy at Annapolis. Nguyen Uoc first read the novel in English when he found himself in an Indonesian refugee camp after fleeing by boat from Vietnam in the late 1980s. He said he wept on reading parts of it. Much later, he decided to translate and expand the novel on his own initiative because he felt that the story with the additions of historical fact and some fiction that he could make as ‘an insider’ would cause Vietnamese readers to realise that ‘the truth frees us and reconciles us.’
As I have already indicated, I have decided to take on trust Uoc’s written assurance to me that he has not ‘betrayed’ the form and intent of my original novel. I must reserve a full and measured judgement until such time as I know precisely word by word what he has written. Meantime I am pursuing my own course for SAIGON to be translated separately into Vietnamese exactly as I wrote it without any additions — and for it to be published openly by a Vietnamese publisher in Vietnam. As I write in December 2004, there have been some initial inconclusive discussions in Hanoi about this on my behalf. I do not yet know whether this will happen sooner or later — or indeed ever.
What is beyond doubt is that Nguyen Uoc has applied himself with passion, idealism and energy to produce Trang Huyet. If he is right and a book can contribute significantly to healing and reconciling past wounds, a more harmonious future will begin in small ways to emerge for the people of Vietnam – and this must also eventually touch people of other nations. Then all of Uoc’s diligent efforts will have been worthwhile. In any event I commend his ambition and his spontaneous and dedicated labours and wish him well.
My admiration and affection for Vietnam and its courageous and highly distinctive people have grown constantly from the moment I began to research and write SAIGON. Renewed involvement with Vietnam which has been triggered by the emergence of Trang Huyet and the republication in Britain of a new 2005 English edition of SAIGON has therefore been a source of great pleasure to me. So may I thank all concerned and wish those who read these pages enduring peace and growing harmony in their daily lives.


3. LỜI GIỚI THIỆU
của Nguyễn Minh Diễm


Năm 1982, một nhà báo Anh từng làm việc và trải qua tù đày tại Trung Quốc nhưng chưa bao giờ đặt chân đến Việt Nam tên là ANTHONY GREY xuất bản cuốn tiểu thuyết SAIGON dày gần 800 trang khổ lớn (bản in của Nxb Little, Brown and Company-Boston-Toronto năm 1982 dày 787 trang kể cả bạt). Có thể nói Saigon trước hết là một tiểu thuyết lịch sử, vì nó dựa trên những sự kiện có thật, những diễn biến có thật, nhiều nhân vật có thật và các tình tiết của truyện trải dài theo dòng chảy của 50 năm lịch sử Việt Nam, từ 1925 đến 1975. Nó còn mang ý nghĩa lịch sử hơn khi mà để xây dựng tác phẩm, Anthony Grey đã phải bỏ ra suốt ba năm nghiên cứu sách vở tại các thư viện và thư khố ở Paris, Luân đôn, Washington D.C. và đại học Harvard. Ông đã tham khảo vài trăm cuốn sách và hàng ngàn tài liệu liên quan đến Việt Nam. Ông cũng từng gặp, trao đổi và xin ý kiến của các sử gia, nhà nghiên cứu và nhà báo nổi tiếng thế giới về những vấn đề của Việt Nam. Trong đó, có chuyên gia về Việt Nam trước thế chiến thứ hai Virginia Thompson; chuyên gia về Điện Biên Phủ Jules Roy, nhà nghiên cứu Mặt Trận Giải phóng Miền Nam Douglas Pike, tiểu thuyết gia Frank Snepp và nhiều người khác nữa, kể cả các chuyên gia về tình báo và quân sự ở Đông Nam Á. Tinh thần và cung cách làm việc như thế cho thấy tham vọng của Grey là dựng lại cả một giai đoạn lịch sử của Việt Nam như một tổng hợp, như một bức tranh toàn cảnh. Chính vì tinh thần làm việc nghiêm túc như thế mà Saigon đã được dùng như tài liệu giảng dạy về hai cuộc chiến Đông Dương cũng như lịch sử Việt Nam cho sinh viên sĩ quan Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis. Tác phẩm cũng đựơc dịch từng phần để làm sách tham khảo cho sinh viên sĩ quan của Học viện Quân sự Hà Nội, theo bức thư Anthony Grey viết cho Nguyễn Ước được in lại ở cuối sách.
Nhưng trước hết, Saigon là một tiểu thuyết, cho dù nó có bám sát lịch sử đến đâu, và Anthony Grey khi viết cuốn truyện dài này đã có một mục đích rõ rệt, như ông xác nhận sau đó, là mang đến sự hoà giải, để “góp phần hàn gắn những vết thương khủng khiếp và những đau khổ mà người dân ở mọi phía trong xứ sở Việt Nam vốn đã bị tả tơi vì một cuộc chiến quá dài, dài hơn của bất cứ xứ sở nào”. Chính vì hoài bão mục đích ấy, mà các nhân vật trong Saigon đều được Anhony Grey cho một sức sống mãnh liệt, kiên quyết và có phần cực đoan, mê mị, lúc yêu đương cũng như lúc thù hận, lúc sống, cũng như lúc chết. Nếu coi Saigon là một sân khấu, thì những con người mà Anthony Grey tạo ra và đưa lên sàn diễn đều đã sống hết mình, hoạt động hết năng lực và không nghỉ ngơi trước khi rời khỏi ánh đèn. Những tính cách mạnh mẽ, năng động và cực đoan ấy của nhân vật có thể là do bản tính cá nhân, có thể là do hoàn cảnh hun đúc, mà cũng có thể là do một thế lực nào đó cố tình huấn luyện để sử dụng, nhưng nhất định chúng là nguồn gốc sâu xa của tấn bi kịch kéo dài quá lâu nơi đất nước Việt Nam, và khiến dân tộc chúng ta đã phải trả một giá quá đắt.
Tuy nhiên, dù Anthony Grey tài ba cách nào thì ông cũng vẫn là một người phương Tây từ ngoài nhìn vào đất nước Việt Nam, ông có tài giỏi cách mấy thì ông vẫn không thể nhập vai người Việt Nam, và khung cảnh sống cũng như các nhân vật ông tạo ra vẫn không tránh khỏi có phần khập khiễng, lạc loài dưới con mắt phân tích của độc giả người Việt vì họ chỉ là “người Việt gốc ngoại”, được xây dựng từ kiến thức, sách vở về đất nước, con người cũng như lịch sử và văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, giống như công chúa ngủ trong rừng, Saigon đã gặp NGUYỄN ƯỚC, để khung cảnh và các nhân vật của nó được thổi một luồng sinh khí Việt Nam để chúng được tái đầu thai. Nguyễn Ước đã làm một công việc chưa từng có là viết thêm vào một cuốn tiểu thuyết đã xuất bản và đang lưu hành. Từ trên 800 trang của Saigon, ông đã viết thêm khoảng 1/3 nữa để thành trường thiên tiểu thuyết TRĂNG HUYẾT dài hơn 1200 trang (Bản in của nhà xuất bản Nhân Văn, Canada năm 2004 gồm hai cuốn cùng khổ với SAIGON, dày 621 trang và 645 trang). Mặc dù giữ nguyên bố cục của Saigon với tám phần, bắt đầu từ năm 1925 đời vua Khải Định, cho đến cuối tháng Tư năm 1975, Nguyễn Ước đã “viết chêm vào, khi thì trọn một chương, khi thì vài đoạn nghĩ tưởng, vài lời đối thoại, nhiều nhân vật phụ, v.v. để chính đính, minh hoạ; đào sâu tâm lý của các nhân vật người Việt, bổ túc nhiều chi tiết về hoàn cảnh chính trị, khuynh hướng cách mạng bản địa và thời đại, sự kiện lịch sử, nghi lễ cung đình, phong cảnh, nếp nghĩ, tục lệ và văn hoá dân tộc, v.v.” và điều mà ông “chủ tâm hơn cả là cố gắng để nói lên Việt tính của nhân vật và sự kiện, đồng thời trình bày sao cho hợp với cảm quan của độc giả người Việt”.
Chính trong ý nghĩa ấy, có thể nói là Nguyễn Ước đã góp phần sáng tạo các nhân vật, và cả khung cảnh sinh hoạt nữa để họ trở thành những người Việt Nam, sống trong xã hội Việt Nam với những nét văn hoá đặc thù và nhờ thế mà độc giả người Việt chúng ta có thể buồn vui theo họ. Nguyễn Ước quả nhiên cũng là một tác giả, và điều độc đáo đã được thực hiện: một tác phẩm tổng hợp của hai người chưa bao giờ gặp nhau, hoàn thành phần nọ cách phần kia hơn 20 năm đã ra đời như một tổng hợp của kiến thức, tài năng và cảm tính.
Trường thiên tiểu thuyết TRĂNG HUYẾT kết thúc khi chiếc máy bay trực thăng cuối cùng rời khỏi sân thượng toà đại sứ Mỹ tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố Sàigòn rạng sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, như một dấu chấm hết cho cái tên “Saigon” từng tồn tại gần 300 năm trước của thành phố được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn đông”. Rất có thể sự bức tử của cái tên ấy đã khiến nó được dùng làm tên cho cuốn tiểu thuyết của Anthony Grey. Còn tên Trăng Huyết mà Nguyễn Ước đặt cho cuốn tiểu thuyết viết chung với Grey từ Saigon thì lại thành hình từ nỗi xúc động khi trôi theo nửa thế kỷ đau thương ly loạn trên khắp đất nước Việt Nam vì, như ông nói ở cuối sách, “trăng huyết” là trăng đỏ như máu, trăng báo điềm, và làm chứng cho nửa thế kỷ đau thương của đất nước.
Khởi điểm của truyện là năm 1925, khi mà sự thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam bắt đầu gần 70 năm trước đó đang bị lung lay tận gốc bởi sự hà khắc của chế độ thực dân đã lên đến cực điểm, cũng có nghĩa là nỗi hận thù của dân chúng đã đến mức không thể đè nén được, trong khi số người đựơc giáo dục theo Tây học, có kiến thức về nhân quyền, dân quyền thì đã đủ để trở thành một lực lượng lãnh đạo có khả năng.
Năm mươi năm của cuốn trường thiên tiểu thuyết Trăng Huyết có thể coi như giai đoạn sôi động nhất trong lịch sử cận và hiện đại Việt Nam, nếu so sánh với 25 năm trước đó, và 30 năm sau đó. Mà sôi động thật, vì một khi đã bắt đầu bắt đầu dở sách ra, thì người đọc liền bị cuốn hút vào nhịp sống sôi nổi của các nhân vật, sự mãnh liệt và cuồng nhiệt của từng cảnh huống cũng như sức đi vũ bão của các sự kiện lịch sử. Sự thảnh thơi ngồi yên thưởng thức một ly cà phê hay một ly rượu hình như chỉ xuất hiện một lần ở đầu truyện, khi các vị khách rồi sẽ thành nhân vật chính của truyện mới chỉ vào đến lãnh hải Việt Nam, chứ chưa đặt chân lên đất Sàigòn. Sau đó, thì không có lúc nào và không có ai được “rảnh rang” như thế nữa. Tương tự như nhiều tác phẩm vĩ đại kinh điển, ngay trong phần đầu dài 151 trang của Trăng Huyết (từ gần 100 trang của Saigon, với tiểu tựa rất súc tích và giầu hình tượng: Đời thuộc địa là thế!), tác giả đã giới thiệu các nhân vật chính của truyện, bao gồm thành viên của bốn gia đình mang tính đại biểu cho cái xã hội chứa đầy mâu thuẫn của Việt Nam trong suốt mấy chục năm của truyện. Tác giả đã minh họa nhiều cảnh tượng tiêu biểu của cái xã hội phân hóa, chất chứa vô vàn bất công, bất nhân, bất nghĩa và vô lý, cùng những đối nghịch không thể hóa giải, để xây dựng những nhân vật có thể coi như đại diện của từng thành phần. Những nhân vật ấy, theo diễn biến của lịch sử và định mệnh trải dài gần 1200 trang sách của 50 năm biến động nhất trong lịch sử Việt Nam, rồi đây sẽ gắn liền với nhau bằng tình yêu cũng như thù hận. Tình yêu thì cuồng nhiệt, và hận thù thì sục sôi, nhưng cả hai loại tình cảm ấy đều kiên định, đều cực đoan, và đều có phần mê mị do sự tàn khốc của định mệnh, cũng như đòi hỏi của hoàn cảnh hay phương pháp đấu tranh của các phe phái và chủ nghĩa.
Nhân vật chính của Trăng Huyết là Joseph Sherman, người Mỹ, đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1925, khi mới 15 tuổi. Cậu cùng cha mẹ và anh đến thăm miền Nam Việt Nam, lúc ấy là một thuộc địa của Pháp. Là con của một thượng nghị sĩ, sinh ra và lớn lên trong một quốc gia tự do dân chủ, được giáo dục về giá trị cao quý của con người “vốn được sinh ra bình đẳng, và được tạo hoá ban cho những quyền không ai có thể xâm phạm, trong đó có quyền đựơc sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc”, Joseph đã có dịp được chứng kiến tận mắt những cảnh ngộ trong đó con người bị đối xử như một con vật, một phương tiện, một dụng cụ, hay một trò chơi tùy ý và tùy sức “sáng tạo” của chủ nhân, mà những chủ nhân ấy thường khi lại bệnh hoạn, hay ít nhất lệch lạc tính dục, khiến thú vui của họ càng mang vẻ quái đản, hoang dã và tàn bạo hơn. Đó chính là xã hội Việt Nam vào năm 1925, dưới sự cai trị trực tiếp của người Pháp.
Cuối Phần thứ nhất, nghĩa là chỉ sau một thời gian ngắn ở Việt Nam, cậu thiếu niên Joseph đã có những thay đổi, chuẩn bị cho cậu sẵn sàng bắt đầu chuyến phiêu lưu trải dài đến dòng cuối của truyện: Cậu đã lần đầu tiên hưởng thú vui của dục tình, đã gặp những nhân vật Pháp cũng như Việt rồi đây sẽ trở thành đại diện cho những lực lượng và những phe phái chính trong cuộc chiến tranh nhiều mặt, kéo dài nhiều giai đoạn, mà lúc nào cũng khốc liệt và không bao giờ khoan thứ. Quan trọng nhất là Joseph gặp Kiều Lan, lúc ấy là một cô bé mười tuổi trong một hoàn cảnh đầy kịch tính. Cô là định mệnh của cậu, vì sau đó, sợi chỉ nối kết mọi diễn tiến trong truyện chính là mối tình vừa lãng mạn, dữ dội, vừa oan nghiệt như đã tiền định từ kiếp nào, lại vừa mang tính đam mê sáng tạo của hai người. Mối tình ấy, từ khi nẩy sinh, đã chi phối mọi vui buồn, mọi diễn tiến, mọi quyết định trong đời Joseph dù chính anh ý thức được hay không.
Trong bốn người của gia đình Joseph đến thăm Việt Nam, thì đến cuối chương một, anh trai đã chết thảm, ông bố mất một cánh tay và vĩnh viễn mang bộ mặt biến dạng do tai nạn trong một chuyến đi săn ở gần Sàigòn. Thê thảm hơn, bà mẹ không còn là người cậu tuyệt đối kính yêu nữa, và niềm tin về sự bình đẳng của loài người như một tặng phẩm của tạo hoá cũng đã trôi đi theo những cơn mưa nhiệt đới trong rừng, khi cậu đứng chết trân chứng kiến những cảnh mà cho đến cuối truyện, và có lẽ cuối đời nữa, không bao giờ rời khỏi tâm trí của cậu.
Gia đình thứ nhì được giới thiệu trong chương đầu tiên của truyện là vợ chồng Ngô Văn Lộc cùng hai con trai Ngô Văn Đồng và Ngô Văn Học. Đây là gia đình mà vì lòng hận thù tổng hợp tận cùng với thực dân Pháp, đã theo cách mạng, mới đầu là Quốc Dân đảng, rồi Việt Minh Cộng sản, và sau nữa là Bắc Việt Nam. Ước vọng duy nhất của gia đình này lúc đầu là giết ngoại xâm, rồi sau là để trả thù. Lòng hận thù của các thành viên trong nhà này cao và mãnh liệt đến nỗi mỗi khi họ xuất hiện, người đọc lại hồi hộp vì biết sẽ có máu đổ, mặc dù chưa biết là ai sẽ chết. Gia đình thứ ba là hai cha con người Pháp Jacques và Paul Devraux, lúc bấy giờ là chủ nhân của gia đình Lộc. Jacques sau trở thành người cầm đầu mật thám Pháp tại Đông Dương, còn Paul là sĩ quan quân đội Pháp trú đóng tại Yên Bái rồi Điện Biên Phủ. Cuối cùng là gia đình quan đại thần Trần Văn Hiếu của Nam Triều. Trong khi ông Hiếu trung thành với triều đình Huế và do đó cực kỳ tôn kính người Pháp, thì người con trai thứ của ông là Trần Văn Kim lại cấp tiến và theo cách mạng, về sau trở thành một cán bộ Cộng sản cao cấp. Con gái út của gia đình là cô Lan mặc dù được giáo dục theo lễ giáo phong kiến, nhưng lại mang một tinh thần nổi loạn. Cô trao thân cho Joseph sau khi gặp nhau chỉ vài lần và có một con gái với anh ta trước khi lấy Paul. Con trai của Lan với Paul sau trở thành sĩ quan Quân lực Việt nam Cộng hòa. Người trực tiếp bắn anh ta sau khi anh đã bị thương cụt cả hai chân lại chính là Tuyết, con gái của Lan và Joseph. Chồng Tuyết theo Cộng sản, nên bị chính phủ miền Nam bắt và tra tấn đến chết, để lại cho cô hai con nhỏ. Tuyết quyết tâm đòi nợ máu nên gia nhập Mặt trận GPMN và chạm trán tại trận địa mà không biết với người anh cùng mẹ khác cha. Tuyết và hai con - một trai tên Chương, một gái tên Trinh, sau Tết Mậu Thân ra sống ở ngoài Bắc. Tuyết và Chương chết mất xác trong một vụ oanh tạc của không quân Mỹ. Trinh theo đoàn quân Nam tiến, gặp được Joseph và hai ông cháu lên được chuyến trực thăng cuối cùng rời toà đại sứ Mỹ ở Sàigòn lúc rạng sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Câu chuyện chấm dứt với lời Joseph vỗ về bên tai Trinh: Cháu đừng lo. Ông cháu mình an toàn rồi - mọi sự rồi sẽ ổn thoả hết.
Tác giả đã cho Joseph Sherman thực hiện một cuộc phiêu lưu kỳ lạ đầy bất ngờ dọc theo 50 năm của lịch sử Việt Nam. Anh ghé đất nước Việt Nam nhiều lần, mỗi lần là một cột mốc của đời anh, mà cũng là cột mốc của lịch sử. Không chỉ có mặt ở Sàigòn vào những thời điểm đặc biệt như khi vừa chấm dứt Thế chiến hai, trong giai đoạn cuối của Đệ nhất Cộng hòa, trong giai đoạn cao điểm của cuộc chiến, những ngày Tết Mậu Thân, và khi Sàigòn thất thủ, Jospeh còn lái xe dọc theo quốc lộ một, chứng kiến cảnh hoang tàn của chiến tranh và nạn đói. Anh cũng ra Huế để thấy cảnh vua Bảo Đại thoái vị. Anh còn có mặt ở hang Pắc bó vào khi đội Tuyên truyền Giải phóng quân bắt đầu thành lập, ở Hà nội trong ngày 2 tháng Chín năm 1945, và từng đến thăm doanh trại của quân Pháp tại Điện Biên Phủ. Joseph cũng hiện diện tại Paris trong thời gian các phe phái đang thảo luận về dự thảo một hiệp định đình chiến năm 1973, và tại Hoa Kỳ vào khi phong trào phản chiến lên đến cao điểm. Chính vì thế, mà trong truyện, tất cả các sự kiện chính trong 50 năm lịch sử cận và hiện đại của Việt Nam đều đựơc nói đến. Không chỉ nói đến, mà còn mô tả một cách tương đối chi tiết và chính xác. Không chỉ cảnh, mà cả con người nữa cũng được mô tả bằng những nét rất sắc rất gọn, từ những nhân vật phụ chỉ nhằm minh họa một hoàn cảnh, cho đến những nhân vật lịch sử như vua Bảo Đại, anh em ông Ngô Đình Diệm, ông Hồ Chí Minh, ông Dương văn Minh vân vân. Bạn đọc có thể đặt câu hỏi rằng có lý nào mà tất cả các nhân vật ấy lại có thể xuất hiện trong dòng đời của một người thôi mà không có sự gượng ép nào trong việc xây dựng truyện, nhưng khi dong ruổi cùng Joseph qua hơn 1000 trang của Trăng Huyết, ta sẽ thấy là chuyện ấy xẩy ra thực, xẩy ra một cách nhuần nhuyễn và hợp lý nhờ những thủ thuật của tác giả. Rất có thể là tác giả đã muốn tận dụng mọi kiến thức của mình về lịch sử Việt Nam, nhưng lại nhân đó, cho chúng ta được thưởng thức một trường thiên tiểu thuyết lịch sử hàng đầu cho đến nay.
Khi đọc đến dòng cuối của truyện, biết rằng hai ông cháu Joseph và Trinh sống, sẽ an toàn và sẽ bắt đầu một cuộc đời mới, người đọc cảm thấy bàng hoàng vì lẽ tất cả các nhân vật khác đều đã chết. Không một ai chết bình thường, và không một ai chết bình thản. Tất cả đều chết dữ dội và trong hận thù:
Người chết đầu tiên là anh Chuck của Joseph, bị trâu rừng húc trong một cuộc săn: Chuck ngã xuống, bụng bị đâm thủng, và trong khi cậu quằn quại đau đớn dưới đất, con trâu húc cậu thêm cú nữa. Trong cú húc thứ hai, một chiếc sừng trâu chọc vô phổi Chuck nơi vùng cao phía bên trái lồng ngực và mũi sừng nhọn hoắt ấy đâm thấu trái tim cậu (Phần I).
Gia đình Ngô Văn Lộc chết cả nhà: Vợ Lộc chết trong tù vì bị mật thám Pháp tra tấn. Lộc bị Pháp bắn chết ở Sàigòn trong khoảnh khắc bắt đầu cuộc Nam bộ Kháng chiến, Học chết vì bị kết án tử hình khi thất bại trong cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng, còn hai cha con Đồng thì tan xác khi được đưa từ Bắc vào chiến đấu tại miền Nam dưới danh nghĩa của Mặt trận Giải phóng Miền Nam: Ngô Văn Đồng đang cố hết sức kéo thi thể con trai vào miệng địa đạo thì bị bắn trúng. Trong chớp mắt, hai quả tên lửa làm nổ tung thân thể hai cha con ra thành hàng ngàn mảnh. Một luồng khói trắng khổng lồ và đất đen phụt lên thành hình xoắn ốc, làm mù mịt nơi tử nạn và chung quanh họ, địa đạo sụp xuống, biến thành một nấm mồ chôn cả cha lẫn con (Phần VI). Cũng trong trận đánh này, Tuyết giết người em cùng mẹ khác cha với mình.
Cả năm người của gia đình Ngô Văn Lộc, kể cả con trai của ông, đều chết không toàn thây với lòng thù hận không nguôi, trong những tình huống khác nhau của chiến tranh. Cái chết của họ, cũng như của hai cha con kẻ thù bất cộng đái thiên của họ là gia đình Devraux cũng cho thấy cái sự bất tận của hận thù, một trong những góc độ của tình hình xã hội Việt Nam trong thời gian của cuốn tiểu thuyết: Jacques bị Cộng sản ám sát, còn Paul thì bị Việt Minh bắn chết khi Điện Biên Phủ thất thủ, sau khi quân đội Pháp đã đầu hàng, và người quyết tâm tìm giết anh chính là Đồng: Với vẻ mặt méo mó quằn quại, người Việt Nam ngoéo chặt ngón tay vào cò súng tiểu liên trong vài giây, và viên sĩ quan Pháp té chúi nhủi vào vách hầm, rồi úp mặt xuống mặt đất đầy bùn, không một tiếng kêu và không bao giờ còn cử động. (Phần V)
Hai cha con Lan cũng không thoát khỏi cái chết nát thây ngay trên đường phố Sàigòn vì một chú bé đang học làm biệt động thành: Khi quả lựu đạn miểng buộc nơi bắp đùi cậu bé phát nổ, nó hất tung toàn thân Trần Văn Hiếu và cậu bé lên khỏi mặt đất, rồi cả hai cùng rớt xuống thành một đống nhầy nhụa... Joseph nhìn thấy thân thể Lan, nằm cách cha nàng mấy tấc, co quắp và rạn vỡ. Anh không thấy được mặt Lan vì nằm sấp trên vỉa hè, nhưng chiếc áo lụa hồng nàng mặc biến lẹ làng thành màu đỏ thẫm trong ánh nắng chói lọi, và khắp chân tay mảnh mai của nàng không có một dấu hiệu động đậy nào (Phần IV).
Và rồi Tuyết, con người đau khổ bậc nhất trong truyện cũng chết bất ngờ và đau đớn cùng con trai trong một trận đánh bom của B 52 tại Hà Nội: Trinh [con gái của Tuyết] nhìn chòng chọc thi thể dập nát của Tuyết và Chương vừa được người ta kéo lên, chung một lượt. Hai mẹ con đang rúc vào người nhau khi quả bom xoáy trúng hầm trú ẩn, và mẹ con cùng chết trong khi còn ôm lấy nhau (Phần VIII)
Và còn nhiều cái chết khác nữa, kể cả chết vì bị ném xuống biển, như nhân vật lạ lùng nhất trong truyện là Đào Văn Lật.
Song song và ẩn hiện sau những cái chết ấy là hận thù. Trong Trăng Huyết, người ta không hận thù một người hay một dòng họ, mà hận thù từng nhóm người, từng giai cấp, từng tập thể, hay cả dân tộc, nên hận thù mang tính hàng hàng lớp lớp và không ai thấy mình đủ thời gian cũng như sức lực để giết hay để trả hận. Máu lại đòi thêm máu và máu tạo thêm máu. Chính vì thế mà trong truyện, có khi người ta gào thét trước khi giết, và đâm chém thêm, nã súng thêm vào thây ma sau khi giết. Ít khi có tiểu thuyết nào mà con người đối xử với nhau tàn bạo đến thế, và cũng ít tiểu thuyết nào mà tác giả lại tàn nhẫn với các nhân vật của mình đến thế.
Có thể là tác giả muốn cực tả sự tàn bạo và phi nhân của chiến tranh nói chung và cuộc chiến nhiều mặt ở Việt Nam nói riêng. Nếu thế, thì sự bàng hoàng của người đọc khi gấp sách lại, và sự rờn rợn suốt thời gian đọc truyện, khi thấy những dòng chữ đầy máu đổ thịt rơi hóa ra lại là sự thành công của tác giả. Dân tộc ta quả nhiên đã mang những vết thương khủng khiếp trong một cuộc chiến quá dài, quá rộng và quá tàn nhẫn.

Virginia, Hoa Kỳ,
Mùa thu 2004


4. Thay Lời Bạt

của Hoàng Khởi Phong

1.

Đối với các học giả và các nhà nghiên cứu lịch sử và chiến tranh Việt Nam, trong các thư viện người ta có thể tìm thấy hàng ngàn tác phẩm được nhìn bởi nhiều góc độ, của những tác giả Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản, và tất nhiên không thể thiếu của những tác giả Việt Nam đóng góp cách nhìn của mình vào ngay những dòng máu của người đồng chủng, mà có thể chính những tác giả người Việt cũng như những tác giả ngoại quốc ấy đều đã can dự không ít vào việc khơi cho những dòng máu này chẩy mạnh hơn, lớn hơn hoặc làm cho chúng bớt gia tăng cường độ.
Về phía các tác giả người Việt, tôi muốn nói tới các hồi ký chính trị của những người từng ngự trị trên đỉnh quyền lực của hai miền Nam và Bắc, những lãnh tụ của phía Cộng Sản, hay những chính trị gia của miền Nam... Tất nhiên những hồi ký chính trị của các tác giả Việt Nam được viết bởi hai động lực tâm lý chính, nhất là sau năm 1975 khi miền Nam sụp đổ, đã khiến cho các tác giả xuất thân từ phía miền Bắc như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Trần Văn Trà... cùng hàng trăm tác giả khác tha hồ thêu dệt, tô điểm cho chiến thắng của miền Bắc bằng những chiến công được dựng lên bởi những con người đúc bằng sắt bằng thép với trí tuệ cao vời tưởng chừng như những con người này chỉ có thể hiện diện trong các truyện thần thoại. Đó là chưa nói tới các tác phẩm của Hồ Chí Minh, được viết từ trước khi chiến tranh chấm dứt, vì ông từ trần vào năm 1969. Chỉ có điều cần nhắc lại là chính ông đã dùng một cái tên khác, để viết sách tự ca tụng mình. Trong khi đó các hồi ký của những tác giả xuất thân từ phía miền Nam thì dường như được viết ra chỉ nhằm để phân bua với mọi người rằng mình không có lỗi, rằng mình không mang chút trách nhiệm nào trong việc miền Nam thất thủ, và rằng miền Nam mất là vì bị người Mỹ bỏ rơi, hay vì lỗi của những kẻ khác. Hầu như các tác giả xuất thân ở phía miền Nam không một ai thành khẩn đấm vào ngực mình để nói lên phần nào trách nhiệm của chính mình, nhận một phần lỗi lầm, dù thật nhỏ, trong việc thất trận của miền Nam. Kể từ năm 1975 tới nay, các tướng lãnh của miền Nam từng ngự trên đỉnh cao quyền lực như Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Đức Thắng... đã khóa miệng mình thật chặt, trong khi vài tướng lãnh khác như Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Trần Văn Đôn... dùng những cuốn sách đầu Ngô mình Sở của họ để đổ lỗi cho người khác. Bên cạnh những cuốn sách ấy còn có hồi ký của những tác giả đã thật sự chiến đấu ngoài mặt trận nhưng phần lớn họ là những sĩ quan trung cấp nên dù có muốn nhận trách nhiệm của mình trước lịch sử cũng không ở trong các vị trí đủ cao để gánh vác toàn bộ trách nhiệm, tựa như tín hữu công giáo thường thầm nhủ mình trong nhà thờ mỗi khi xưng tội rằng: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.
Về những cuốn sách của người nước ngoài, trước tiên ta có thể thấy một điều là các tác giả Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản dường như viết chỉ để giải thích, phân tích và biện hộ cho nguyên nhân và bản chất sự dính líu của quốc gia họ vào chiến tranh Việt Nam mà họ cho rằng đó hoàn toàn vì những lý tưởng cao cả. Hầu như hiếm có tác giả người Pháp nào quy trách nhiệm việc gây ra chiến tranh Việt Pháp là do chính bởi người Pháp xâm lăng Việt Nam và cai trị Việt Nam một cách tệ hại. Hầu như không một tác giả Pháp nào khởi đi từ cái gốc của trận chiến, mà chỉ nói tới cái ngọn của nó, ở Điện Biên Phủ. Các tác giả người Mỹ cũng chẳng hơn gì. Cái gốc mà họ khởi đi là sự hiện diện của quân Mỹ ở Việt Nam, nhằm giúp người Việt ngăn chặn Cộng Sản, để rồi họ lúng túng giải thích chương trình Việt Nam hóa chiến tranh dưới thời Nixon, và sau cùng là những tranh cãi về hồi đại kết cục của cuộc chiến, về nguyên nhân thất bại của miền Nam mà họ cho rằng vì đã không chiến đấu hết sức để tự cứu mình nên không thể trông mong một nước bạn nào có thể cứu dùm. Và hầu như cũng ít có tác giả người Mỹ nào thật sự viết về cung cách người Mỹ hành xử như chủ nhân của vùng đất mà họ hiện diện để tham chiến trong tư cách của một đồng minh. Cách cư xử ấy của người Mỹ đối với người Việt cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho chiến tranh có cớ để lan rộng.
Hàng ngàn cuốn sách viết về Việt Nam như thế đã khiến cho bất cứ nhà nghiên cứu hoặc học giả nào cũng không tránh khỏi nhiều lần lúng túng khi đem một sự kiện đối chiếu với nhiều tác giả khác nhau, dưới những góc độ khác nhau. Có thể nói không một cuốn sách nào viết về lịch sử và chiến tranh Việt Nam được coi là hoàn hảo vì không thể nào có một sự thật trọn vẹn cho chiến tranh Việt Nam, dù được nhìn vô tư tới đâu chăng nữa, dưới bất cứ góc cạnh nào đi nữa.

2.

Là một người đọc bình thường, tôi vô cùng cám ơn Anthony Grey trong nguyên bản Saigon và Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Như tôi đã trình bầy ở đoạn trên, không thể tìm thấy sự thật tuyệt đối của lịch sử Việt Nam nơi các tác phẩm nghiên cứu của các học giả cũng như nơi các cuốn hồi ký của những người từng thao túng vận mệnh Việt Nam trong suốt thế kỷ 20. Tuy thế, người đọc có thể đi tìm những sự thật tương đối của lịch sử nơi một tác phẩm văn chương. Tác phẩm văn chương đó chính là Saigon của Anthony Grey, và đặc biệt là Trăng Huyết với phần đóng góp của Nguyễn Ước vào tác phẩm gốc Saigon. Chính trong hai tác phẩm ấy người ta thấy được trong thế kỷ vừa qua, không một dân tộc nào chịu đau khổ vì chiến tranh nhiều tới độ như dân tộc Việt Nam đã chịu.
Thử kiểm điểm lại những cuộc chiến mà người Việt phải hứng chịu trong thế kỷ 20: Để giành quyền sống dưới ánh mặt trời, dân tộc Việt phải đứng lên hất đổ ách đô hộ của người Pháp. Suốt một thế kỷ ròng rã, máu của dân Việt đã chảy lênh láng trên núi trong rừng, xác của người Việt đã trôi đầy sông ra tới biển để rồi năm 1954, trước khi người Pháp xuống tầu về nước, họ đã để lại một vết dao cắt đứt ngang mình nước Việt. Để hàn gắn vết thương ấy, dân Việt khai diễn một cuộc chiến khác giữa miền Bắc được chống lưng bởi thế giới Cộng Sản với đối thủ miền Nam được hậu thuẫn bởi khối Tư Bản.
Hai thế kỷ trước đó, nước Việt cũng đã một lần bị chia hai, nhưng chiến tranh Trịnh Nguyễn chỉ là tranh chấp giữa nội bộ dân tộc vì thế nó không thể tàn nhẫn, khốc liệt và chết tróc nhiều tới độ như cuộc chiến Nam Bắc vừa qua, với những thế lực ngoại cường thúc đẩy phía sau lưng của hai nửa phần dân tộc. Cuộc nội chiến trước kia chỉ là huynh đệ tương tàn với cung tên giáo mác, thế mà xương đã cao thành gò, máu đã chẩy thành suối. Với cuộc nội chiến thứ hai thì bên cạnh những tranh chấp nội bộ của dân Việt, các cường quốc Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa đã ấn vào tay người Việt vô vàn bom đạn nên máu chẩy thành sông và xương chất cao thành núi. Cái nọc của chiến tranh trong lòng dân Việt là phải thu hồi quyền tự quyết cho dân tộc, phải giành lấy chỗ đứng cho mình trong cộng đồng nhân loại.
Chính vì vậy gia tộc Ngô Văn Lộc, từ thế hệ này sang thế hệ khác, bằng mọi giá phải tham gia vào cuộc chiến đấu giải phóng quê hương. Chính vì thế hai cha con Ngô Văn Lộc và Ngô Văn Đồng khởi đầu theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng khi VNQDĐ mất đi uy thế ban đầu, cả gia tộc ấy đã đã không ngần ngại đứng chung hàng ngũ với Cộng Sản. Cuối cùng, khi cậu bé Ngô Văn Kiệt chết trong khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào năm 1968, tuy là một đặc công Việt Cộng, nhưng cậu đã bó sát thân thể mình, bên trong bộ quần áo MTGPMN, là lá cờ VNQDĐ nguyên thủy mà người cha Ngô Văn Đồng và ông nội Ngô Văn Lộc đã tôn thờ, chứ không phải là lá cờ của Cộng Sản.
Chính vì phải thu hồi độc lập cho tổ quốc mà Đào Văn Lật đã không ngần ngại cắt cụt một phần thân thể của mình, chỉ vì tin rằng sau khi phế bỏ nó, anh không còn bị chi phối bởi tình yêu nam nữ, và như thế có thể dồn toàn tâm, toàn trí vào cuộc chiến đấu.
Chính vì muốn lấy lại giang sơn trong tay người Pháp mà Trần Văn Kim đã quay lưng lại với cha và anh, là những quan lại của Nam Triều. Để không bị chi phối bởi những vướng bận gia đình, Trần Văn Kim chấp nhận sống một cuộc đời độc thân trơ trọi hầu có thể yên tâm chiến đấu dưới ngọn cờ giải phóng. Nhưng rút cục, sau hơn ba chục năm cống hiến toàn bộ tâm trí cho cuộc chiến đấu, trong những tình cờ của lịch sử, Trần Văn Kim và người anh ruột Trần Văn Tâm lại cùng hiện diện trong hòa đàm Ba Lê, nhưng ở hai vị trí đối mặt nhau nơi bàn hội nghị, như hơn ba chục năm trước dưới mái ấm gia đình, Trần Văn Kim từng đối đầu với người cha sinh ra mình là Trần Văn Hiếu, cũng như với Trần Văn Tâm, vì chính sách cai trị của người Pháp. Ở bên ngoài hội nghị, Trần Văn Kim lén đi gặp lại người anh ruột ấy sau hơn ba chục năm xa cách. Chỉ vì vài phút yếu lòng ấy mà Trần Văn Kim đã tạo thêm cớ cho những người đồng chí trừ khử mình. Khi bị thanh trừng, Kim là một trong những lãnh tụ hàng đầu của Cộng Sản, và là người thân tín của Hồ Chí Minh; tuy kế thừa chủ trương của Hồ là đứng giữa những tranh chấp của Nga Hoa anh lại bị kết tội là hữu khuynh, và bị thanh toán bởi những người Cộng Sản hiếu chiến và cuồng tín.
Những trận chiến tôi vừa nêu là những trận chiến chính của dân Việt, chưa nói tới những trận chiến lẻ tẻ giữa người Việt với người Anh và người Nhật, trong giai đoạn tàn cuộc đệ nhị thế chiến, cũng như hai trận chiến xẩy ra sau năm 1975 nơi biên giới Hoa Việt phía Bắc, và nơi biên giới Miên Việt phía Nam.
Trong thế kỷ 20 vừa qua dân tộc Việt quả là người bạn đồng hành với chiến tranh, đến độ nhiều thế hệ trẻ thơ Việt Nam đã biết đến súng đạn ngay từ khi vừa thôi núm vú mẹ. Khi những thế hệ trẻ thơ Việt Nam này lớn lên thì nhận lãnh những vũ khí giết người, không kém gì việc nhận những món đồ chơi mới lạ như trẻ thơ các nước khác.

3.

Là một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc, tôi ngưỡng mộ các đóng góp của Anthony Grey và Nguyễn Ước. Cung cách tiếp cận sự thật lịch sử của Anthony Grey trong tác phẩm Saigon quả là điểm son cho tôi học hỏi. Để viết cuốn tiểu thuyết ấy Anthony Grey đã bỏ ra ba năm trời lục lạo trong các thư viện, trong các văn khố lưu trữ hồ sơ của các quốc gia từng can dự vào chiến tranh Việt Nam. Ông cũng trực tiếp phỏng vấn một số nhân vật đầu não của các phe tham chiến, nên vì vậy mà tác phẩm của ông tuy chỉ là một tác phẩm văn chương song nó giúp cho người đọc hiểu thấu đáo một cách tổng quát những diễn tiến của các biến cố lịch sử liên quan tới nước Việt trong thời cận đại.
Dưới ngòi bút của Grey, các nhân vật có thật của lịch sử và các nhân vật hư cấu của tiểu thuyết hiển lộ như những con người thật bằng xương thịt trước mắt người đọc. Tùy thuộc vào những biến cố lịch sử mà các nhân vật tham dự và cấu thành, mỗi nhân vật có một cá tính riêng, một nhân cách riêng. Điển hình cho những nhân vật này ta có thể kể tới các nhân vật do nhu cầu của tiểu thuyết như các thành viên của bốn gia tộc gồm dòng họ Sherman của nước Mỹ, dòng họ Devraux của nước Pháp và gia tộc Ngô Văn Lộc, gia tộc Trần Văn Hiếu của nước Việt. Tính chất di truyền nơi tính tự cao của dòng họ Sherman, Devraux hay nơi lòng thù hận của của các gia tộc họ Ngô và họ Trần có thể được coi là một trong những cái trục chính của toàn bộ cuốn tiểu thuyết Saigon. Bên cạnh những nhân vật của tiểu thuyết là những nhân vật thật của lịch sử như Hồ Chí Minh, một kịch sĩ đại tài, nhất cử nhất động của Hồ đều được tính toán chính xác, đến độ không một khán giả nào có thể biết được con người thật của Hồ Chí Minh. Người đọc cũng nhận thấy sự tráo trở lật lọng nơi những những lãnh tụ Cộng Sản như Lê Đức Thọ, cung cách ứng xử trịch thượng của Kissinger, thái độ thụ động của các tướng lãnh Dương Văn Minh và Nguyễn Văn Thiệu.
Là một nhà văn tự học qua trường đời và qua các tác phẩm của những nhà văn đi trước, tôi không học Anthony Grey cách hành văn. Nhưng tôi học được trong tác phẩm Saigon rất nhiều điều về cách sử dụng những chi tiết lịch sử cho một cuốn tiểu thuyết lớn, bao trùm một không gian rộng gồm những biến động xẩy ra tại nhiều quốc gia và trải một thời gian dài suốt hơn nửa thế kỷ.
Sau cùng tôi muốn nói tới những đóng góp của Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Kể từ khi văn học Việt Nam chuyển từ văn chương Hán Nôm sang văn chương quốc ngữ đã được hơn một thế kỷ. Trong thời kỳ văn học mới ấy, văn chương Việt Nam, bằng những bản dịch, đã tiếp nhận rất nhiều tác phẩm của các nền văn học khác. Một trong những người tiên phong trong việc phỏng dịch các tác phẩm ngoại quốc có thể kể đến Hồ Biểu Chánh. Một số truyện của tác giả này là những phó bản của các tác phẩm viết bởi các nhà văn Pháp của thế kỷ 19. Điều đáng nói là Hồ Biểu Chánh không hề ghi chú rằng ông đã mượn cốt truyện của các tác giả ngoại quốc để chuyển đổi câu chuyện cho phù hợp với đời sống của người Việt ở trên đất Việt. Thời của Hồ Biểu Chánh là giai đoạn đầu của văn chương quốc ngữ. Cũng phải nói ngay là ông có công giúp cho các độc giả người Việt không có khả năng đọc tác phẩm ngoại quốc, có thể cảm nhận được các tác phẩm ấy. Sau Hồ Biểu Chánh một vài thập niên, cũng có một vài tiểu thuyết gia chuyên phóng tác các truyện ngoại quốc, vì nhu cầu của người đọc càng ngày càng tăng, tuy nhiên các cuốn sách này được ghi rõ là phóng tác, và phần lớn nhằm để giải trí cho người đọc hơn là những tác phẩm văn học. Sau cùng là những tác phẩm văn học được dịch đầy đủ với toàn bộ câu chuyện, đã giúp cho người đọc ở Việt Nam tiếp cận thật sự với nền văn học của các nước khác.
Tác phẩm Saigon của Anthoney Grey được hoàn tất năm 1982, với chiều dầy khoảng bẩy trăm trang, khi được Nguyễn Ước tiếp cận vào năm 2000 đã trở thành một cuốn tiểu thuyết khác, với một cái tên khác, là Trăng Huyết, có chiều dầy hơn một ngàn trang và khổ sách cũng lớn hơn. Để hình thành Trăng Huyết, bản thân Nguyễn Ước, theo như ông kể lại ở phần Tái bút, cũng bỏ ra nhiều năm trời sưu tầm, kiểm tra các tài liệu lịch sử và tham quan các địa điểm được dùng làm bối cảnh cho câu chuyện.
Nơi bìa trước của cuốn Trăng Huyết, người đọc nhận thấy hai tên tác giả Anthony Grey và Nguyễn Ước được đặt cùng một hàng. Trong các trang đầu của cuốn sách người đọc bắt gặp lá thư của Anthony Grey gửi cho độc giả của Trăng Huyết; ông viết không phải với tư cách của một tác giả cho phép dịch tác phẩm của mình sang một ngôn ngữ khác, mà là đồng thuận việc Nguyễn Ước cùng đứng tên với ông làm đồng tác giả của cuốn Trăng Huyết, bởi vì Trăng Huyết đã có những đóng góp đáng kể của Nguyễn Ước đến độ Anthony Grey không thể phủ nhận những đóng góp ấy.
Khi so sánh hai cuốn sách, người đọc có thể thấy trong khoảng bốn trăm trang đóng góp của Nguyễn Ước là những bổ túc cần thiết cho nguyên bản Saigon, bởi vì sau hai chục năm tác phẩm này hoàn thành, đã có những tư liệu mới được các văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Hoa cho công bố. Điều đặc biệt là những gì Nguyễn Ước đóng góp đã đan chặt lại với nguyên bản, như là một tấm lụa được dệt nguyên thủy, chứ không phải là một miếng vải khác đắp vào một tấm lụa bị hư hỏng vài đoạn. Trong Trăng Huyết có những đoạn được viết thêm vào trong các chương, hơn thế nữa Nguyễn Ước đã dựng thêm một số nhân vật, cũng như đôi khi đã viết hẳn một chương.
Điều thứ hai mà tôi bắt gặp trong tác phẩm này chính là chất văn chương trong toàn tác phẩm, dù được viết bởi nguyên bản Saigon của Anthony Grey, hay là bản dịch và sự đóng góp thêm vào trong Trăng Huyết của Nguyễn Ước. Cả hai tác giả này đã cho người đọc thấy cách sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời trong toàn cuốn sách. Với hơn 1000 trang sách của bộ tiểu thuyết Trăng Huyết, Anthony Grey và Nguyễn Ước đã làm được một kỳ công trước đó hầu như chưa một cuốn sách nào đáp ứng được, là gói trọn lịch sử và chiến tranh Việt Nam cận đại của năm chục năm từ 1925 cho tới 1975. Tất cả những biến động lớn nhất xẩy ra cho Việt Nam trong nửa thế kỷ này, được ngòi bút tài ba, và tấm lòng ngùn ngụt của hai nhà văn này đúc lại thành một tác phẩm mà bất cứ ai quan tâm tới Việt Nam đều nên đọc.
Sau cùng tôi muốn nói về Trăng Huyết và những gì tôi học được ở Saigon của Anthony Grey qua Trăng Huyết với sự đóng góp của Nguyễn Ước là những bài học quý giá cho một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc. Tôi chân thành ngưỡng mộ và cám ơn cả hai tác giả đã cho tôi đọc lịch sử cận đại của nước tôi, trong một cuốn tiểu thuyết hay nhất về chiến tranh Việt Nam.


5. Đài Á Châu Tự Do (RFA)

Phỏng vấn Nguyễn Ước

Như thường lệ vào tối Thứ Bảy hàng tuần, Tạp chí Văn học do Phạm Điền phụ trách lại đến với quí vị thính giả.

Phạm Điền:
Tạp chí Văn học Nghệ thuật và Phạm Điền thân chào quí vị thính giả.
Việt Nam với máu xương chồng chất trong nửa thế kỷ vừa qua trở thành một đề tài cho giới cầm bút người Việt cũng như người nước ngoài khai thác. Thoạt đầu, một nhà văn người Anh là Anthony Grey dựng một tiểu thuyết đặt tên là SAIGON, xuất bản tại Bắc Mỹ vào năm 1982. Khi đọc cuốn sách này, ông Nguyễn Ước đã bị thu hút vì những tình tiết giăng mắc trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Ông Nguyễn Ước đã dịch cuốn này nhưng có sáng kiến thêm thắt một số chi tiết khác nữa. Ông đã đề nghị với tác giả và được tác giả Anthony Grey đồng ý.
Từ đó, ông Nguyễn Ước đưa thêm một số nhân vật phụ và các chi tiết khác vào SAIGON, với khoảng một nửa trong tổng số trang, làm tăng sự phong phú cho tác phẩm. Kết hợp độc đáo này khiến SAIGON được tái tạo với tựa đề mới là TRĂNG HUYẾT.
Để thính giả khắp nơi biết thêm về công trình này, chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Ước và được cho biết thêm một số chi tiết qua cuộc phỏng vấn dưới đây.

Phạm Điền: Kính chào tác giả Nguyễn Ước. Thưa ông, trước hết xin ông cho thính giả biết một số chi tiết về ông và duyên nợ của ông đối với văn chương.
Nguyễn Ước: Thưa anh Phạm Điền và thưa quí vị thính giả của đài Á châu Tự do,
Tôi người gốc Quảng Bình. Năm 1954, di cư vào Huế. Học xong Đại học Sư phạm Huế, tôi dạy Văn và Sử tại Tuy Hòa và làm chuyên viên phát triển xã hội cho Caritas Việt Nam.
Từ sau tháng 4 năm 1975, tôi sống loanh quanh ở Sàigòn và lục tỉnh suốt 12 năm, và 2 năm sống ở Hà Nội. Năm 1989, tôi vượt biển sang đảo Galang, Indonesia. Từ năm 1991, định cư tại Toronto, Canada. Trước năm 1975, có xuất bản một tập thơ và một vở kịch. Tại Canada, tôi in được trên 10 cuốn. Hiện nay có khoảng 7 cuốn về văn học và đạo học đã được tái bản trong nước dưới thương hiệu của các NXB Văn Học, Thông Tin Văn hóa, Hội Nhà Văn Hà Nội...
Phạm Điền: Thưa ông Nguyễn Ước, xin ông cho biết trong trường hợp nào ông đã biến SAIGON thành TRĂNG HUYẾT, và lý do xuất hiện của nó cũng như cảm hứng đó đến từ đâu?
Nguyễn Ước: Thưa anh, có lẽ đến từ những hoài bảo, gian nan và ưu tư của mình về hoàn cảnh đất nước và những chết chóc hoạn nạn của thân nhân, bè bạn.
Năm 1989, tôi tình cờ bắt gặp tại đảo Galang cuốn SAIGON của Anthony Grey xuất bản năm 1982. Ban đầu chỉ mày mò đọc để học Anh văn, rồi càng đọc càng cảm động, cứ lẩm bẩm: “Người ta nước ngoài mà còn viết tới như thế này!” Tuy trong đó có vài điểm tôi cảm thấy lấn cấn nhưng tôi tâm đắc với ý tưởng chủ đạo của tác giả, rằng dân tộc Việt Nam ta đang bị cuộn chặt bởi tầng tầng lớp lớp thù hận và rằng để thành công trong công cuộc cứu nguy dân tộc thì phải giữ gìn và phục vụ toàn thể các chi thể của dân tộc.
Tôi nghĩ tại sao mình lại không vừa dịch ra vừa viết bổ túc nếu cần. Rồi thì, từ nhan đề SAIGON, thủ đô của miền nam, thành phố định mệnh đối với cuộc đời của nhân vật chính, tôi đổi thành TRĂNG HUYẾT, trăng đỏ như máu, trăng báo điềm và làm chứng cho nửa thế kỷ đau thương ly loạn trên khắp nước Việt Nam.
Còn lý do cụ thể để ra mắt gấp Trăng Huyết vì năm nay kỷ niệm 50 năm trận đánh Điện Biên Phủ và sang năm là kỷ niệm 30 năm Sàigòn thất thủ. Với hai thời điểm đó, tôi nghĩ có lẽ độc giả dễ chú ý tới bộ trường thiên tiểu thuyết Trăng Huyết và đề tài của nó hơn lúc nào hết.
Phạm Điền: Thưa ông, TRĂNG HUYẾT có nhiều nhân vật khác nhau, lối sống khác nhau, thuộc nhiều thế hệ và trong bối cảnh xã hội cũng khác nhau, nhưng có chung là hoàn cảnh ly loạn của đất nước trải qua nhiều triều đại lịch sử. Sự dàn dựng phong phú đó chắc hẳn cũng có lý do? Nhưng phần thực của nó là bao nhiêu và phần vẽ lại lịch sử của nó thì như thế nào?
Nguyễn Ước: Thưa anh, truyện Trăng Huyết bắt đầu từ năm 1925 với các nhân vật gắn bó đời mình vào dòng lịch sử cách mạng và chiến tranh của Việt Nam.
Các nhân vật chủ yếu xuất xứ từ bốn gia đình: —Nathaniel Sherman, người Mỹ, thượng nghị sĩ —Jacques Devraux, người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám —Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ Nam kỳ —và Ngô văn Lộc, người “bồi” của J. Devraux, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.
Không gian truyện là Việt Nam, Paris, Washington, Anh. Thời gian kéo dài từ năm 1925 khi nền đô hộ của Pháp vững vàng nhất, cuộc vận động cách mạng của các sĩ phu cựu học chuyền sang các thanh niên tân học, với những ngày Pháp đàn áp tàn bạo các phong trào chống thuế của nông dân, cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ, Sô viết Nghệ Tỉnh, hành tung của Hồ Chí Minh, nạn đói Ất Dậu, tới trận đánh Điện Biên Phủ, vụ ám sát Ngô Đình Diệm, biến cố Mậu Thân và sau cùng, cuộc thất thủ Sàigòn.
Lý do dàn dựng mà anh gọi là phong phú đó chỉ cốt để trình bày đời sống, tư duy và cảm xúc của các nhân vật hư cấu hoặc có thật trong suốt 50 năm nghiệt ngã với hận thù cá nhân, gia tộc, dân tộc chồng chất và quyện chặt vào nhau, trong đấu tranh và chiến tranh giữa hai bên. Một bên là những người lấy dân tộc chủ nghĩa làm nền tảng, một bên là những kẻ lấy cộng sản bôn-sê-vich làm phương pháp. Rồi cuối cùng người dân cả hai miền bị cuốn vào vòng quay chiến tranh lạnh, trong sự thất trận của người Pháp, tháo chạy của người Mỹ và đất nươc Việt Nam điêu tàn xơ xác...
Có thể xem Trăng Huyết là hư cấu vì các nhân vật chủ lực của nó là hư cấu. Cũng có thể xem Trăng Huyết là một thực tế vì nó đề cập đến rất nhiều nhân vật có thật trong suốt 50 năm lịch sử; họ chi phối và làm điêu đứng các nhân vật hư cấu. Trăng Huyết được đặt trong những biến cố có thật mà một số tồn đọng cho tới hôm nay.
Nói như thế nhưng Trăng Huyết không có tham vọng lý giải hoặc vẽ lại lịch sử vì mọi kết luận về biến cố lịch sử chỉ là kết quả tạm mà thôi, và chính các sử gia cũng phải liên tục tìm kiếm.
Trăng Huyết chủ yếu là một tác phẩm văn học. Có thể tiêu khiển qua cốt truyện gay cấn với đầy đủ các tình huống yêu đương, chiến tranh và chết chóc. Nhưng nội dung của nó cố đào thật sâu tâm tư tình cảm của các nhân vật với những gút mắc trong tình yêu, cách mạng và chiến tranh. Hướng mà Trăng Huyết nhắm tới là cùng với độc giả, qua văn chương và nghệ thuật, nhìn sâu vào lòng mình, nhìn lại quá khứ và hoàn cảnh để góp phần xóa ngộ nhận, giải hận thù, để cùng nhau yêu thương trong tình người và sống hoà hợp trong nghĩa đồng bào.
Phạm Điền: Thưa ông, như ông vừa nói thì Trăng Huyết ban đầu do tác giả Anthony Grey viết dưới tên là SAIGON, sau nhờ sự đóng góp thêm của ông, một số nhân vật phụ và những chi tiết về vấn đề lịch sử lại được ông thêm vào cuốn này. Ông có thể cho thính giả của đài chúng tôi biết làm thế nào ông có cơ duyên và có khả năng phối hợp được một kết cấu như vậy?
Nguyễn Ước: Thưa anh, có lẽ cái chính là với cảm quan thiên phú của nhà báo và nhà văn, Anthony Grey thấu hiểu được lịch sử và dân tộc Việt nam dù khi viết cuốn SAIGON, ông chưa hề tới Việt Nam bao giờ. Nhưng mà như thế thì ông ấy chỉ có thể dựa vào những tài liệu có được trước năm 1982 mà thôi. Khi bắt tay tái chế cuốn SAIGON của Anthony Grey thành TRĂNG HUYẾT tôi tự hỏi tại sao mình không nỗ lực trình bày cái nhìn của người trong cuộc để hợp thành một tác phẩm đa diện cho độc giả người Việt. Nhất là từ năm 1982 tới nay, đã biết thêm nhiều sự thật và có thêm nhiều tài liệu, và người Việt lúc này, nam cũng như bắc, thế hệ già cũng như thế hệ trẻ, cũng đã nhìn quá khứ và cuộc chiến cũng như nhìn nhau bình tĩnh, độ lượng và đồng cảm hơn trước đây.
Tôi sưu tầm thêm tài liệu, về Việt Nam tới các địa điểm mà Anthony Grey đề cập tới trong cuốn SAIGON, phỏng vấn những người liên hệ. Rồi trong khi chuyển ngữ thành TRĂNG HUYẾT ngang đâu thì tôi bổ túc ngang đó. Khi nguyên một chương, khi thì vài nhân vật, về tôn giáo, về phong tục và phong cảnh, về biến cố lịch sử.v.v... Có khi thay đổi hẳn cái nhìn nguyên thủy của Anthony Grey về những người dân tộc chủ nghĩa, VNQDĐ, quân dân miền nam, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Nhu, Dương văn Minh,v.v...
Sau đó tôi truy cập và may mắn tìm ra A. Grey trên internet. Nhận được bản thảo tiếng Việt và các emails trả lời của tôi về việc tôi giữ nguyên cốt truyện và giải thích những gì tôi thêm bớt, Anthony Grey chẳng những không phản đối mà còn hào phóng khích lệ, hy vọng sẽ có sự đóng góp tích cực của tôi khi một ngày nào đó SAIGON được quay thành phim.
Phạm Điền: Thưa ông, xem thế thì TRĂNG HUYẾT cũng giống như một bản nhạc được hoà âm, được phối hợp lại độc đáo. Ông có nghĩ rằng điểm đặc sắc ấy sẽ thu hút được độc giả trong khung cảnh hiện nay, khung cảnh của 30 năm sau khi chiến tranh kết thúc và người Việt hiện nay đang tản mạn khắp năm châu bốn biển?
Nguyễn Ước: Thưa anh, trước hết xin cám ơn lời khen của anh. Sự hòa âm mà như anh khen đó nếu có giữa hai tác giả Anh và Việt thì có lẽ là mới lạ đối với độc giả, còn độc đáo hay không thì tôi không dám nói. Tuy các độc giả của ta tản mác nhưng tôi cảm thấy hình như dạo sau này, các độc giả, nhất là độc giả lớn tuổi, lại thích đọc các tác phẩm liên quan tới chính trị và đạo học. Cái khó là hiện này việc phát hành sách ở hải ngoại gần như bế tắc. Tại Canada, lần in thứ nhất vừa qua với 500 ấn bản đã được độc giả ở Canada tiêu thụ gần hết. Tôi đang tìm người tái bản ở California để tiện việc phát hành ra khắp nơi tại hải ngoại.
Phạm Điền: Với kết quả tốt mà ông nhận được đó, ông có dự tính viết tác phẩm khác không, và độc giả có thể chờ đợi gì nơi tác phẩm sắp tới của ông?
Nguyễn Ước: Thưa anh, là người viết văn thì lúc nào cũng có nhiều dự tính. Cưu mang thì có nhưng hoàn tất chắc là còn lâu. Có lẽ tôi cũng sẽ cố gắng để viết một bộ trường thiên tiểu thuyết nữa, lấy bối cảnh giai đoạn lịch sử từ năm 1975 tới năm 1990 hoặc 1995. Hiện nay, có một bộ như Trăng Huyết được dư luận chú ý là cực kỳ may mắn trong cuộc đời viết văn rồi. Có lẽ tôi cũng chẳng có tham vọng gì hơn nữa. Và lúc này, tôi lại quay về với việc nghiên cứu và dịch thuật của mình.
Và nhân đây, xin thêm lần nữa cám ơn anh Phạm Điền, quí vị thính giả, và các thân hữu, các tạp chí đã cổ vũ và hỗ trợ cho cuốn Trăng Huyết.
Phạm Điền: Chúng tôi thành thật cám ơn nhà văn Nguyễn Ước đã dành cho cuộc phỏng vấn này.
Chào ông.

ở Phát trong Chương trình 11:00 tối, ngày 14.8.2004

6. Sơ lược cốt truyện

Trăng Huyết là tiểu thuyết sử thi, lấy bối cảnh Việt Nam từ năm 1925 tới sáng ngày 30.4.1975. Nhân vật chủ yếu xuất xứ từ bốn gia đình: (1) Nathaniel Sherman, người Mỹ, thượng nghị sĩ; (2) Jacques Devraux, người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám; (3) Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ tại Nam kỳ; (4) Ngô văn Lộc, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.

Phần Thứ Nhất : Đời thuộc địa là thế (1925)
Thượng nghị sĩ Mỹ Nathaniel Sherman mang vợ, Flavia, và hai con, Chuck 21 tuổi, kẻ được ông kỳ vọng sẽ làm tổng thống Mỹ, và Joseph 15 tuổi tới du lịch Sàigòn và săn thú tại vùng Định Quán cho Nhà bảo tàng Vạn vật học của dòng họ ông ở Washington. Người hướng dẫn săn bắn là Jacques Devraux, cựu sĩ quan và đang làm mật thám cho Nha Liêm Phóng Đông Dương. Devraux góa vợ, trung thành với nước Pháp. Ngượỉc lại, con trai của y, Paul, 18 tuổi, lại rất có cảm tình với người Việt. Tài xế và bồi của Jacques, Ngô văn Lộc là đảng viên Tâm tâm xã. Hai vợ chồng vừa giúp việc vừa theo dõi Jacques. Lộc có hai con là Đồng, 13 tuổi và Học, 11 tuổi, thích nô đùa với Paul và Joseph trong trại săn. Trước đó, trong đêm tiếp tân tại Dinh Thống đốc Nam kỳ, Joseph quen với gia đình Trần văn Hiếu là quan sứ thần tại Sàigòn. Hiếu thuộc một gia tộc hợp tác với Pháp từ lúc Pháp bắt đầu chiếm Nam kỳ nên trở thành đại địa chủ. Hiếu có 2 con trai, Tâm 12 tuổi, Kim 11 tuổi và Kiều Lan 10 tuổi.
Trong lần gặp gỡ ấy, Joseph cứu nạn cho gia đình Hiếu khi rượt bắt lại con khỉ nhỏ của Lan mà Kim mang theo rồi để sổng nó chạy vào sảnh đường Dinh Thống đốc, suýt làm vỡ một độc bình cổ cực quí của Thống đốc. Nơi trại săn, Jacques ngủ với vợ của Lộc, rồi với Flavia, và Joseph vô tình bắt gặp. Hôm sau, hai mẹ con Joseph ra Huế dự Lễ Nguyên Đán ở Điện Thái Hòa. Joseph bắt đầu mê mẩn khung cảnh VN và hoàng thành Huế. Tại đây, Joseph quen với Đào văn Lật, em vợ của Hiếu, một ký giả du học Pháp về, mê thuyết Siêu Nhân của Nietzsche, sôi nổi cách mạng chống Khải Định và chống Pháp. Nathaniel đi săn được hai tuần thì xảy ra tai nạn, khi rượt theo một con min mà ông muốn săn cho bằng được, bất chấp lời khuyên của Jacques thì bị nó phản công. Chuck xông vào cứu cha, bị con trâu rừng ấy húc chết.

Phần Thứ Hai: Hận thù của triệu cu li (1929-1930)
Tủi hận vì chuyện mẹ làm với Jacques, Đồng và Học bỏ nhà đi, rồi bị mộ làm phu cạo mũ, sống như súc vật ở Đồn điền cao su Vị An, gần Ngã Ba Ông Đồn, Đồng Nai. Việc do thám Jacques vở lỡ, vợ Lộc bị bắt, chết trong tù, Lộc nhờ VN Quốc Dân Đảng giúp, tìm ra con. Đêm đó, Học bị một tên mô phu hãm hiếp. Sáng hôm sau, Học dùng mác chém chết tên giám đốc đồn điền. Phu cạo mũ nổi loạn. Ba cha con ra bắc, gia nhập VNQDĐ. Đào văn Lật lúc này anh là ký giả ở Hà Nội, tham gia chung chi bộ với cha con Lộc nhưng phản đối vụ khởi nghĩa 1930. Để hiến đời cho cách mạng, Lật tự thiến mình sau khi làm tình với người yêu là Liên, một tiểu thư con quan ở Huế. Jacques bỏ nghề săn, làm thanh tra mật thám ở Hà Nội. Ba cha con Lộc tham gia cuộc tấn công Yên Bái, đồn binh mà Paul lúc này là trung úy đóng tại đó. Cuộc tấn công thất bại và sau khi ba cha con chém Paul suýt chết, Học bị bắt rồi bị lên máy chém với 12 liệt sĩ VNQDĐ tại Yên Bái. Lật bỏ VNQDĐ, lập hội kín riêng, rồi gặp Nguyễn Ái Quốc. Sau đó, Lật tham gia tỉnh ủy cộng sản Nghệ An, cùng với Lộc và Đồng tổ chức cuộc biểu tình của 30.000 nông dân trong vụ Sô Viết Nghệ Tỉnh. Pháp oanh tạc đoàn biểu tình tại Hưng Nguyên, Liên trúng bom chết, Lật và Lộc bị thương rồi bị bắt.

Phần Thứ Ba: Sông Hương (1936)
Hai anh em Tâm và Kim đi học Pháp học Luật trở về; Tâm là người cơ hội chủ nghĩa, Kim theo cộng sản. Joseph trở lại Sàigòn nghiên cứu lịch sử, hoàn tất luận án tiến sĩ. Anh gặp lại Paul lúc này là đại úy, chủ trương Pháp Việt đề huề và đang yêu Kiều Lan. Cha của Paul, Jacques, là Phó giám đốc Nha Liêm Phóng, công tác tại Huế. Sàigòn lúc này không khí chính trị khá thoải mái vì Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp. Trận tranh vô địch quần vợt giữa Kim và một nguòi Pháp tại Câu Lạc Bộ Thể thao đưa khán giả Pháp Việt tới ẩu đả. Joseph đưa Lan về nhà; hai người bắt đầu cảm mến nhau. Tối đó, Kim mắng chửi cha là tay sai cho Pháp, bị Hiếu đuổi khỏi nhà. Joseph đi đón Lộc từ Côn đảo được phóng thích, dò hỏi về cái chết của Chuck và để lộ tin Jacques đang ở Huế. Joseph ra Huế, cùng với Lan thăm lăng Minh Mạng, quan chiêm Lễ Tế Trời ở Nam Giao. Sáng đó, hai cha con Ngô văn Lộc âm mưu ám sát Jacques bên bờ sông Hương nhưng bất thành, Đồng bị bắt. Đêm đó, hai nguòi yêu nhau trong một con đò trên sông. Joseph đi Hà Nội nghiên cứu ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, dự tính xong việc sẽ cầu hôn và đem Lan đi Mỹ. Khi Joseph về lại Sàigòn, tới nhà Lan thì được tin Jacques vừa bị ám sát chết ở Huế và trước đó, Trần văn Hiếu nhận lời gã Lan cho Paul; Lan vì hiếu thảo và vì ảnh hưởng vụ Kim bỏ nhà ra đi, không phản đối.

Phần Thứ Tư: Chiến Tranh và Nạn Đói (1941-1945)
Joseph về Mỹ, lập gia đình với Tempe, có hai con trai là Gary và Mark. Sau vụ Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Joseph nhập ngũ, làm phi công chiến đấu ở căn cứ Côn Minh. Cuối năm 1944, trong một lần oanh tạc tàu chiến Nhật tại Vịnh Bắc Việt, máy bay của Joseph trúng đạn, rồi rớt ở Việt Bắc, được cứu đem vào chăm sóc ở Pắc Bó. Tại đây, Joseph gặp lại Lật và cảm mến Hồ Chí Minh, lúc này đang tự nhận là người theo chủ nghĩa dân tộc. Sau khi cho du kích quân mang Joseph về Côn Minh, HCM sang thăm; gặp lúc Nhật đảo chánh ở Đông Dương và với sự giới thiệu của Joseph với tướng Chennault; được tặng ảnh, tặng súng. HCM cùng cán bộ Việt Minh ở Pắc Bó biến thành tổ tình báo cho OSS Hoa Nam. Joseph chuyển sang công tác cho OSS. Cuối tháng 7.1945, Joseph mang người và vũ khí sang Việt Bắc yễm trợ và huấn luyện cho VN, gặp Kim, Võ Nguyên Giáp. Nhật đầu hàng, HCM và VM về cướp chính quyền ở Hà Nội mang theo vũ khí của Mỹ. Kim làm trưởng đoàn VM vào Huế tiếp nhận lễ Thoái Vị của Bảo Đại. Vì tình hình Sàigòn, Joseph được điều vào đó và chứng kiến những tranh chấp của Pháp, VM và người Việt quốc gia. Joseph gặp lại Lan, được biết Lan có với Paul một con trai. Lan cho biết trước khi lấy Paul, nàng đã sinh Tuyết, đứa con thụ thai với Joseph trong đêm trên sông Hương và hiện gởi nuôi lén ở Nghệ An. Lộc lúc này là Ủy viên VM ở Sàigòn. Sau sáu tháng bị Nhật giam, Paul được người Anh phóng thích, và chấp hành lệnh, dẫn lính tấn công Tòa Thị chính vì không muốn người Việt tiến tới độc lập dân tộc theo lối cộng sản. Đêm đó Lộc trực. Lộc bị lính dù bắn chết, Paul bị thương nặng, phải lên Đà Lạt dưỡng thương. Joseph nhớ ra nạn đói ở bắc Trung kỳ, cùng Lan dùng xe jeep ra Nghệ An tìm được Tuyết suýt chết đói. Cả hai đem con về cho Tâm bí mật nuôi rồi chia tay.

Phần thứ năm: Điện Biên Phủ (1954)
Xảy ra chiến dịch Điện Biên Phú. Lật là chính ủy trong Bộ chỉ huy của Giáp. Đồng là tiểu đoàn trưởng VM. Paul là trung tá tham mưu trưởng, sau lên đại tá. Joseph là phóng viên chiến trường Đông Dương. Sau mấy lần lui tới Sàigòn, Joseph lén lút gặp Lan sau lưng Paul nhưng Lan vẫn thủ tiết với chồng. Joseph đi ĐBP làm phóng sự, gặp Paul, cứ muốn thú thật. Sau đó, Joseph gặp lại Lan ở Đà Lạt và hai người qua đêm tại khách sạn Langbian Palace. Trong một chuyến ghé lại ĐBP giữa tình trạng bị pháo tan nát, Joseph thú với Paul chuyện mình với Lan. Paul thịnh nộ sắp giết bạn nhưng rồi tha mạng. Cứ điểm ĐBP vỡ. Đồng giết Paul. Joepsh li di vợ ở Hongkong, dự tính cưới Lan đem về Mỹ. Ngay sáng hôm Lan hẹn trả lời dứt khoát, hai cha con đi tới khách sạn Continental gặp Joseph nhưng sắp đặt chân lên khách sạn thì Hiếu bị biệt động thành của VM ám sát, làm Lan chết lây, trước con mắt của Joseph. Tuyết lúc này 17 tuổi, học ở Marie-Curie, thường hận cha mẹ, không chịu theo Joseph đi Mỹ mà ở lại. Sau đó Tuyết bỏ nhà Tâm, kết hôn với một biệt động thành VM tên là Triệu Hùng Lương.

Phần Thứ Sáu: Thái Bình Kiểu Mỹ (1963)
Guy Sherman, đứa con Flavia thụ thai với Jacques Devraux, là nhân viên CIA tại sứ quán Mỹ. Gary, con của Joseph, nay là trung úy làm cố vấn Mỹ tại VN. Joseph làm Giáo sư tại Đại học Cornell ở New York. Đồng là tiểu đoàn trưởng Việt Cộng ở Mộc Linh. Tuyết, mà bây giờ là Tuyết-Lương, thù chồng bị cảnh sát Diệm và CIA sát hại, ám sát kẻ giết chồng mình rồi mang hai con là Trinh và Chương về quê mẹ chồng ở Long An rồi làm trung đội trưởng xung kích VC. Lật là ủy viên Bộ Chính trị Hà Nội được phái vào tiếp tay chỉ đạo MTGPMN. Trong một trận đánh ở Mộc Linh, Đồng cùng con trai bị tử trận, chỉ còn con út là Kiệt. Trận đó Gary sống sót, quen với Naomi, một phóng viên truyền hình BBC, đến công tác tại Sàigòn vì cha là một nam tước quân báo của Anh bị giết tại đó năm 1945. Xong trận, Tuyết gặp Đào văn Lật dưới địa đạo và được điều qua ngành điệp báo. Guy và Naomi thân mật và trao đổi tin tức trong các vụ đấu tranh của Phật giáo và vụ đảo chánh 1.11.1963 giết Diệm Nhu, nhưng nàng không trở thành tình nhân như Guy muốn vì cả hai khác nhau về bản chất.

Phần thứ bảy: Chúng tôi tranh đấu đã ngàn năm (1968-1969)
Gary lên đại úy và là một quân nhân gương mẫu, tiếp tục phục vụ tại VN. Guy vẫn là viên chức CIA tại sứ quán Mỹ. Naomi tiếp tục làm phóng viên truyền hình cho BBC. Mark, em của Gary, trung úy phi công tại Đà Nẵng, bị bắn rớt trong một chuyến oanh tạc miền bắc. Lật bị bắt và biệt giam tại bót Catinat Sài gòn vì không khai báo. Joseph nhận lời làm cố vấn cho JUSPAO, qua Sàigòn quen với Naomi và hai người yêu nhau. Joseph viết thư cho Hồ Chí Minh về trường hợp Mark. HCM và Kim nhân đó khai thác Mark, dụ dỗ đọc bản tự kiểm mà sau đó được phát trên đài Havana Cuba. Tâm làm phụ tá bộ trưởng thông tin cho chính phủ Sàigòn, chuyên làm giàu. Nhờ tin tức Guy cung cấp, Joseph đi Huế tìm Tuyết, gặp con gái trong đêm nổ súng Vụ Mậu Thân mà Tuyết làm tình báo thu thập danh sách quân công cán chính ở Huế. Joseph bị trúng đạn, Tuyết đem cha về ẩn núp trong con đò trên sông Hương. Cùng đêm đó, toán đặc công tấn công sứ quán Mỹ có Kiệt, cháu nội của Lộc. Kết quả, Kiệt và Guy cùng ôm nhau tử trận trong khuôn viên sứ quán; trong người Kiệt vẫn quấn dãi băng cờ VNQDĐ do cha trối lại. Cuộc Tổng Tấn Công thất bại, Tuyết vì cứu Joseph, bị bộ đội Hà Nội hãm hiếp; sau đó, thất vọng thấy “thảm sát Mậu Thân”, và không muốn theo Joseph về Mỹ, Tuyết dẫn hai con ra bắc, nương nhờ cậu Kim. Joseph sang Anh thành hôn với Naomi, viết một cuốn sách phản chiến nổi tiếng và tranh luận với TNS Nathaniel trên đài truyền hình BBC. Gary chết vì đạp trúng mìn khi xông vào can thiệp việc lính Mỹ bắn giết bừa bãi và hãm hiếp phụ nữ tại Quảng Tơ, Quảng Ngãi. Mark được thả, sống trì độn, cùng với Tempe, Joseph, tham gia cuộc biểu tình phản chiến lớn nhất ở Washington. Đêm đó, Nathaniel qua đời, chết trong bất hòa với Joseph và vẫn khăng khăng nói Chuck bị con min ở An Nam húc chết là vì không nghe lời ông.

Phần thứ tám: Chiến thắng và Chiến bại (1972-1975)
Tuyết ra bắc, chỉ chịu làm công nhân, sống héo hắt với hai con ở Hà Nội. Tháng 12-1972, trong cuộc không tập trước lễ Giáng sinh, Tuyết bị trúng bom chết với Chương, chỉ còn lại Trinh. Hiệp định Paris được ký kết, Trần văn Kim gặp lại Joseph và Trần văn Tâm ở Paris. Tới tháng 4.1975, miền nam sắp thất thủ. Naomi đi Sàigòn làm phóng sự lần cuối. Trần Văn Kim ở Hà Nội bị Đảng thanh trừng, gài cho lật xe chết, lấy cớ vì Kim gặp Tâm nhưng thật ra vì Kim là nguòi miền nam, đảng muốn dọn đường để thống trị cả nước. Trước khi đi chết, Kim chuẩn bị cho Trinh theo cán bộ tiếp quản vào nam để tìm cách liên lạc với Joseph. Qua một phóng viên Tây ở Hà Nội, Naomi biết chuyện Trinh và Joseph bay qua Sàigòn tìm cháu ngoại. Tại đây, hai vợ chồng chứng kến những đột biến chính trị, sự dàn xếp của Hoa Kỳ và Hà Nội trong cơn hấp hối của Sàigòn, các hoạt cảnh di tản hãi hùng. Tâm cho vợ con và tài sản đi trước qua Thái Lan, rồi di tản theo trực thăng Mỹ vì từng cộng tác với CIA. Lật là người biết quá nhiều nên trong đêm 29.4, thay vì được phóng thích như ba trăm tù nhân chính trị khác, anh bị CIA cho lên trực thăng, trên đường di tản ra Hạm đội Bảy thì đạp Lật xuống biển. Cuối cùng, qua nhiều gian nan và gay cấn, Joseph tìm được Trinh lúc 3 giờ sáng ngày 30.4 ở gần Biên Hòa, kịp thời đem cháu ra khỏi VN trên chuyến trực thăng sau cùng rời sứ quán Mỹ.

 

Gia $38 US. Trong nuoc My , Nha Xuat Ban chiu tien cuoc Phi.
Ngoai Nuoc My, va Chau Au , Gia ban 45 US
Ngan phieu mua sach xin gui ve TRUONG KIM MAI
7615 Heritage Dr
Annandale -VA 22003 . U S A.

Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved