GIỚI THIỆU
TRĂNG HUYẾT

Gồm có:
1. Lời giới thiệu trên Tạp chí Thế kỷ 21 tháng 7.2004
2. Lời nói đầu của Anthony Grey
- Bản tiếng Việt
- Bản tiếng Anh
3. Lời giới thiệu của Nguyễn Minh Diễm
4. Lời bạt của Hoàng Khởi Phong
5. Đài Á Châu Tự Do (RFA) Phỏng vấn Nguyễn Ước
6. Sơ lược cốt truyện
1. Lời giới thiệu trên
Tạp chí Thế kỷ 21 tháng 7.2004
TRĂNG HUYẾT
của Anthony Grey & Nguyễn Ước
trường thiên tiểu thuyết
Năm 1925, cậu bé Mỹ Joseph Sherman mới 15 tuổi đặt chân tới Sàigòn lần đầu rồi
gắn bó đời mình vào dòng lịch sử nghiệt ngã của dân Việt suốt 50 năm cách mạng
và chiến tranh. Từ đó khởi sự truyện dài TRĂNG HUYẾT với các nhân vật chủ yếu từ
bốn gia đình: —Nathaniel Sherman, người Mỹ, thượng nghị sĩ —Jacques Devraux
người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám —Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú
hộ Nam kỳ— và Ngô văn Lộc, người “bồi” của J. Devraux, chống Pháp, theo chủ
nghĩa dân tộc rồi cộng sản.
Trung tâm truyện là mối tình buốt nhói của Joseph với Kiều Lan, một thiếu nữ
xinh đẹp và thùy mị, con của một thượng quan địa chủ. Hệ lụy của cuộc tình ấy
cuốn Joseph vào những xung khắc cay đắng của người Việt từ gia đình đến xã hội
và khắp nước với các cuộc khởi nghĩa đẫm máu, chiến tranh huynh đệ tương tàn
trong bối cảnh đấu tranh giải thực rồi bị hút vào vòng quay chiến tranh lạnh.
Không gian truyện là ba miền đất nước trải rộng tới Paris, Washington và miền
nam nước Anh . Thời gian truyện kéo dài suốt bốn thế hệ; từ những ngày Phápỉ đàn
áp tàn bạo các phong trào chống thuế của nông dân, khởi nghĩa của VNQDĐ, Sô viết
Nghệ Tỉnh, hành tung của Hồ Chí Minh, nạn đói Ất Dậu, tới trận đánh Điện Biên
Phủ, vụ ám sát Ngô Đình Diệm, biến cố Mậu Thân, và sau cùng, cuộc thất thủ
Sàigòn 1975,v.v.
Người đọc sẽ tìm thấy trong TRĂNG HUYẾT diễn tiến lịch sử VN với những biến cố
được nghiên cứu kỹ, những phát hiện mới và tái hiện sát thực tế. Lồng trong tình
cảnh chính trị oan khiên, khí hậu nhiệt đới sinh động và cảnh sắc đẹp như tranh
vẽ là các nhân vật tiểu thuyết sống chất ngất đam mê và hận thù, lý tưởng hay cơ
hội, chân tình hoặc ngộ nhận, cam kết hay lừa lọc, xác quyết hay hay ngụy tín...
gắn bó thân phận mình vào vận nước và các nhân vật lịch sử trong các phong trào
khởi nghĩa, vận động duy tân, đảng tranh và chống Pháp, nguyên ủy chọn lựa và
thảm kịch đối đầu quốc cộng từ cuối thời quân chủ tới các chế độ cộng hoà Nam
Bắc qua hai cuộc Chiến tranh Đông Dương, với vết chân của các đạo quân Pháp,
Nhật, Anh, Hoa và Mỹ.
Sự kết hợp làm nên bộ truyện này là một hiện tượng độc đáo. TRĂNG HUYẾT là bản
tiếng Việt do Nguyễn Ước chuyển ngữ, bổ túc và tái chế dựa trên bản tiếng Anh
SAIGON của Anthony Grey. SAIGON được xuất bản tại Bắc Mỹ năm 1982 - sáu năm
trước khi A. Grey tới VN lần đầu. Lúc ấy, nó được đánh giá là cuốn tiểu thuyết
tiếng Anh hay nhất về Chiến tranh VN và thành sách bán chạy. Hai mươi năm sau,
SAIGON được Ng. Ước chế tác thành TRĂNG HUYẾT, với sự đồng tình của A. Grey.
Theo Ng. Ước, từ nhan đề SAIGON, thành phố định mệnh trong cuộc đời và tâm tưởng
của nhân vật chính Joseph, ông đổi thành TRĂNG HUYẾT, trăng đỏ như máu, báo điềm
và làm chứng cho nửa thế kỷ ly loạn đau thương trên khắp đất Việt, từ bắc chí
nam. Ông giữ nguyên cốt truyện, nhiều tình tiết và diễn biến tâm lý của SAIGON
khoảng 600 trang rồi thêm vào phần bối cảnh lịch sử, nhiều nhân vật phụỉ và viết
chêm vào cũng khoảng chừng ấy trang, để chính đính; đào thật sâu tâm lý của các
nhân vật người Việt; bổ túc nhiều chi tiết về hoàn cảnh chính trị, khuynh hướng
cách mạng bản địa và thời đại, sự kiện lịch sử, nghi lễ cung đình, phong cảnh,
nếp nghĩ, tục lệ, các giáo phái và văn hóa dân tộc,v.v. Và ông cố gắng nói lên
Việt tính của nhân vật và sự kiện, cùng trình bày sao cho hợp với cảm quan của
người đọc. A. Grey đưa ra cái nhìn của người ngoài cuộc, chủ yếu dành cho độc
giả phương tây thưởng lãm, còn Ng. Ước nỗ lực trình bày nỗi lòng của người trong
cuộc, với kỳ vọng hiệp thành một tác phẩm đa diện cho độc giả người Việt, trong
ý hướng góp phần xoá ngộ nhận, giải hận thù, để cùng cứu chữa và sống hòa hợp.
A. Grey là nhà văn và ký giả người Anh bị biệt giam hai năm tại Bắc Kinh trong
cuộc Cách mạng Văn hoá giữa thập niên 1960. Rời nhà giam, ông được Nữ Hoàng Anh
phong tước Hiệp Sĩ, và sau đó, ông thực hiện chương trình thế giới hằng ngày cho
Đài Truyền hình BBC. Ng. Ước vốn gốc nhà giáo và chuyên viên phát triển xã hội.
Trước lúc vượt biển năm 1989, ông phiêu dạt khắp nam bắc, mưu sinh bằng nhiều
nghề. Định cư tại Toronto từ năm 1991, ông làm tác viên cộng đồng và viết văn.
Mỗi tác giả đều đã xuất bản trên 10 cuốn sách và được đánh giá cao. Theo Ng.
Ươc, vì trong TRĂNG HUYẾT, phần sáng tác của hai tác giả quyện chặt vào nhau nên
có thể xem tác giả đã biến mất, chỉ còn lại tác phẩm là cái duy nhất dành cho
độc giả bình tâm thẩm định.
Trước khi in thành sách, TRĂNG HUYẾT đã được đăng gần ba năm trên Tuần báo Thời
Báo Toronto,với 14.500 ấn bản mỗi kỳ, thu hút đông đảo độc giả và được nhiều
người xem là một loại “Chiến Tranh và Hoà Bình” bằng tiếng Việt. TRĂNG HUYẾT
cũng được trích đăng trên Diễn Đàn talawas, Văn, Đi Tới, Làng Văn, Thư Quán Bản
Thảo, v.v.
Có thể liên lạc với tác giả tại:
— Nguyễn Ước, 532 Dufferin St. Toronto, ON.Canada M6K 2A7. ĐT (416) 539-9547
email: nguyenuoc@yahoo.com
—Anthony Grey, www.tagman-press.com
2. LỜI NÓI ĐẦU
Anthony Grey
Thư gửi bạn đọc Trăng Huyết
do Kiến Văn xuất bản lần thứ nhất năm 2005
Trong mùa hè năm 2004, một người bạn Việt Nam trẻ tuổi của tôi hiện học tại Anh
đã đọc Trăng Huyết, bản phóng tác bằng tiếng Việt. Cô đối chiếu các phần của
cuốn ấy với cuốn tiểu thuyết nguyên bản SAIGON của tôi, là cuốn hình thành cái
lõi cốt yếu của tác phẩm khuếch đại và mới của người bạn đồng tác giả Nguyễn
Ước. Vì tôi không biết và không đọc được tiếng Việt nên lúc ấy, tôi không có ý
niệm về những gì Nguyễn Ước đã làm đối với bản văn của tôi. Trước khi thực hiện
tác phẩm ấy, anh không tham khảo ý kiến tôi, cũng không tìm cách xin phép tôi
cho tới khi anh đã hoàn tất. Thậm chí khi viết thư này, tôi vẫn không biết thật
cặn kẽ những gì chứa đựng trong 400 trang mà anh thêm vào — ngoài việc biết rằng
những thay đổi trong giai đoạn sau năm 1945 thì nhiều hơn trong phần đầu của
cuốn truyện.
Trước đây, tôi biết qua lời của chính Nguyễn Ước giải thích với tôi rằng anh
nồng nhiệt tin tưởng cuốn tiểu thuyết của tôi với những đoạn thông tin và diễn
dịch do anh thêm vào là ‘bộ tiểu thuyết Chiến tranh và Hoà bình mà người dân
Việt Nam đang trông đợi’. Trong lần liên lạc thứ nhất, anh nói với tôi rằng anh
cảm thấy nó có sức mạnh ‘hòa giải và giải phóng’ người dân Việt Nam khỏi những
xung khắc thời quá khứ. Nhận thấy mình xúc động bởi niềm xác tín đó, tôi bất
giác quyết định không chống lại cũng như không phản đối tức thời việc Nguyễn Ước
đã làm.
Tuy thế, tôi cảm thấy nhẹ nhỏm khi người bạn sinh viên Việt Nam trẻ tuổi tại Anh
ấy nói với tôi rằng cô rất xúc động qua những gì cô đã đọc. Cô nói, ‘Tôi xin cám
ơn ông đã viết cuốn sách này. Tôi đã biết được rất nhiều về xứ sở và dân tộc của
tôi mà trước đây tôi chưa hề biết. Tôi nghĩ rằng giá trị lớn lao nhất của cuốn
truyện này là nó bảo tồn ký ức lịch sử cho những thế hệ mới của người Việt trong
một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Tôi cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết rất
quan trọng cho dân tộc Việt Nam — và cũng cho mọi người khác nữa.’
Vào năm 2005 này, ba mươi năm sau ngày Sàigòn thất thủ, dường như thế giới của
chúng ta đang là chốn nguy hiểm hơn bao giờ hết. Cuộc chiến tranh cay đắng ở
I-rắc do người Mỹ khởi động xâm lăng đầu năm 2003 đang ngày càng bị so sánh với
cuộc chiến tranh Việt Nam trong hai thập niên 1960 và 1970. Dù sao, khủng bố và
giết chóc vì lý do tôn giáo và chính trị đang lan rộng toàn cầu hơn bao giờ hết.
Dường như toàn thể hành tinh của chúng ta hiện sống với trạng thái đề phòng hằng
ngày sẽ có thêm một hành động “khủng bố” tập thể nữa. Trong tình huống ấy, điều
quan yếu là những người mà số lượng ngày càng nhiều thêm trên thế giới, đang
mãnh liệt khao khát chấm dứt vĩnh viễn toàn bộ chiến tranh và tàn sát, nên tin
rằng có những lý do để cảm thấy mình được khích lệ. Đối với tất cả chúng ta,
điều quan trọng là có những nền tảng để tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn
và để không bị ám ảnh bởi sợ hãi.
Ở cấp độ cao nhất, mục đích tái bản cuốn trường thiên tiểu thuyết khuếch đại
[Trăng Huyết] này về những cuộc chiến lâu dài và cay đắng tại Việt Nam trong hậu
bán thế kỷ 20 là để nhắc nhở chúng ta thảm kịch kinh hoàng và vô ích của mọi
cuộc chiến, cách riêng các cuộc chiến xuẩn động. Cả Việt Nam lẫn I-rắc đều rơi
vào bản liệt kê buồn bã đó. Mọi người đều đau khổ trong các thời kỳ bi thảm như
thế và chẳng một ai thật sự chiến thắng. Chiến tranh biến hết thảy chúng ta
thành nạn nhân. Lúc này, điều quan yếu cho thế giới của chúng ta là tiến tới một
trạng thái sinh tồn trong đó chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề giữa các dân
tộc và các quốc gia mà chẳng cần tới bạo động và giết chóc. Cũng quan yếu không
kém là việc chữa trị những vết thương khủng khiếp về tâm lý và thể lý của quá
khứ, để giúp tạo dựng một tương lai hòa bình và tốt lành hơn cho tất cả chúng
ta.
Khi cuốn SAIGON được xuất bản lần đầu năm 1982, tôi ngạc nhiên và vui thích thấy
nó trở thành sách bán chạy ở tầm quốc tế tại 15 nước, bằng chín ngôn ngữ khác
nhau. Thật rất hài lòng khi tại Việt Nam và Hoa Kỳ, nó được dùng trong lớp học
để dạy dỗ các sinh viên sĩ quan trẻ tuổi của hải quân và quân đội — Đại học Quốc
phòng của Quân đội Nhân dân tại Hà Nội và Học viện Hải quân Hoa Kỳ tại Anapolis.
Nguyễn Ước đọc cuốn tiểu thuyết ấy lần đầu tiên bằng tiếng Anh lúc anh tới được
trại tị nạn ở Indonesia sau khi trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền vào cuối thập
niên 1980. Anh kể rằng anh đã khóc khi đọc nó hết phần này sang phần khác. Mãi
về sau, anh quyết định dịch và tự chủ xướng việc khuếch đại vì anh cảm thấy cuốn
truyện ấy, với sự thêm vào các sự kiện lịch sử cùng hư cấu nào đó của anh như
một ‘kẻ trong cuộc’, sẽ khiến độc giả người Việt nhận ra rằng ‘sự thật giải
phóng chúng ta và hoà giải chúng ta.’
Như đã nêu rõ, tôi quyết định cứ tin vào sự bảo đảm mà Nguyễn Ước đã viết cho
tôi, rằng anh không ‘phản bội’ hình thức và dự phóng trong cuốn tiểu thuyết
nguyên bản của tôi. Tôi phải bảo lưu quyền thẩm định đầy đủ và có cân nhắc cho
tới một thời điểm tôi biết chính xác từng chữ những gì anh đã viết. Trong lúc
này tôi đang đi theo con đường riêng của mình để SAIGON được dịch riêng biệt ra
tiếng Việt, đúng chính xác những gì tôi viết mà không có bất cứ thêm thắt nào,
và để cho nó được xuất bản công khai bởi một nhà xuất bản của người Việt tại
Việt Nam. Như tôi đã viết vào tháng Chạp năm 2004, hiện ở Hà Nội đang có những
thảo luận bước đầu về việc đó, nhân danh tôi, và chưa có kết quả rõ ràng. Tuy
thế, tôi không biêát việc xuất bản ấy sẽ xảy ra sớm hay muộn — hoặc quả thật bao
giờ.
Rõ ràng Nguyễn Ước đã hết lòng với đam mê, lý tưởng và nghị lực để viết nên
Trăng Huyết. Nếu anh ấy có lý và cuốn sách này có thể đóng góp đầy ý nghĩa để
chữa trị và hòa giải các vết thương quá khứ, thì bằng những cách thức nhỏ bé,
một tương lai hoà hợp hơn sẽ bắt đầu để làm nổi bật dân tộc Việt Nam — và việc
đó chắc chắn dẫn tới kết quả là sẽ làm xúc động người dân của các quốc gia khác.
Lúc ấy, mọi nỗ lực cần cù của Nguyễn Ước sẽ đáng giá. Dù xảy tới tình huống nào
đi nữa, tôi vẫn ca ngợi hoài bảo, sự tự phát, những lao động tận tụy của anh và
mong anh ấy gặp may mắn.
Sự ngưỡng mộ và mến cảm của tôi đối với Việt Nam và dân tộc can trường cùng độc
đáo ấy ngày càng tăng kể từ khi tôi bắt đầu nghiên cứu và viết cuốn SAIGON. Sự
tái tục dính líu tới Việt Nam được gây ra bởi sự xuất hiện nổi bật của Trăng
Huyết và việc tái bản tại Anh ấn bản mới cuốn SAIGON bằng tiếng Anh vì thế đang
là nguồn khoái cảm lớn lao cho tôi. Vậy tôi xin cám ơn tất cả những ai quan tâm
và chúc cho tất cả những ai đang đọc các trang này một hoà bình lâu dài và sự
hòa hợp ngày càng tăng trong cuộc sống hằng ngày.
* Bản dịch của Nguyễn Ước.
Nguyên văn tiếng Anh
FOREWORD
A message to readers of the first
2005 Kien Van edition of Trang Huyet
from
Anthony Grey
A young Vietnamese friend of mine now studying in England read the new augmented
Vietnamese text of Trang Huyet during the summer of 2004. She compared parts of
it to my original English novel SAIGON, which forms the core and essence of this
new expanded work by fellow co-author Nguyen Uoc. Since I do not speak or read
Vietnamese, I had no idea then what Uoc had done to my text. He did not consult
me before he did the work nor seek my permission until after he had finished.
Even as I write this message I still do not know in great detail what is
contained in the extra 400 pages he has added — except that there are more
changes in the period after 1945 than in the first half of the story.
I knew from his own explanation to me that Uoc passionately believed that my
novel with his added passages of information and interpretation was ‘the War and
Peace novel that the people of Vietnam have been waiting for.’ He told me in his
first communication that he felt it had the power to ‘reconcile and free’
Vietnamese people from the conflicts of their past. I found myself moved by this
conviction and decided on an impulse not to oppose or take any immediate
exception to what Uoc had done.
I was, however, relieved when the young Vietnamese student in England told me
she was very moved by what she had read. ‘I would like to thank you for writing
this book,’ she said. ‘ I have learned so much about my country and its people
that I never knew before. The story’s greatest value, I think, is that it
preserves historical memories in a rapidly changing world for new generations of
Vietnamese. I think it is a very important novel for the people of Vietnam – and
everybody else too.’
In the year 2005, thirty years after the fall of Saigon, our world seems to be a
more dangerous place than ever before. The bitter warfare in Iraq triggered by
the American inspired invasion of early 2003 is being compared increasingly with
the Vietnam war of the 1960s and 1970s. In any event terrorism and killing for
political and religious reasons is more widespread globally than ever before.
The whole planet, it seems, now lives daily in anticipation of some new massive
‘terrorist’ outrage. In these circumstances it is vital that the growing number
of people around the world who are wishing fervently for a permanent end to all
warfare and carnage should believe there are reasons to feel encouraged. It is
important for us all to have grounds for trusting in a better future and not
become haunted by fear.
The purpose at the highest level of republishing this expanded novel about the
long and bitter wars in Vietnam in the second part of the twentieth century is
to remind us of the terrible and futile tragedy of all wars, particularly
ill-judged wars. Both Vietnam and Iraq fall into that sad category. Everybody
suffers in such tragic times and nobody truly triumphs. War makes us all
victims. Now it is vital for our world to move forward to a state of being in
which we can solve all problems among peoples and nations without recourse to
violence and killing. It is equally vital to heal the terrible physical and
psychological wounds of the past to help create a better peaceful future for us
all.
SAIGON when first published in 1982 to my surprise and delight became an
international bestseller in 15 countries and nine languages. Very gratifyingly
it has already been used in classrooms in Vietnam and in the United States for
educating young army and navy officer cadets – The Peoples Army Defence
University in Hanoi and the American Naval Academy at Annapolis. Nguyen Uoc
first read the novel in English when he found himself in an Indonesian refugee
camp after fleeing by boat from Vietnam in the late 1980s. He said he wept on
reading parts of it. Much later, he decided to translate and expand the novel on
his own initiative because he felt that the story with the additions of
historical fact and some fiction that he could make as ‘an insider’ would cause
Vietnamese readers to realise that ‘the truth frees us and reconciles us.’
As I have already indicated, I have decided to take on trust Uoc’s written
assurance to me that he has not ‘betrayed’ the form and intent of my original
novel. I must reserve a full and measured judgement until such time as I know
precisely word by word what he has written. Meantime I am pursuing my own course
for SAIGON to be translated separately into Vietnamese exactly as I wrote it
without any additions — and for it to be published openly by a Vietnamese
publisher in Vietnam. As I write in December 2004, there have been some initial
inconclusive discussions in Hanoi about this on my behalf. I do not yet know
whether this will happen sooner or later — or indeed ever.
What is beyond doubt is that Nguyen Uoc has applied himself with passion,
idealism and energy to produce Trang Huyet. If he is right and a book can
contribute significantly to healing and reconciling past wounds, a more
harmonious future will begin in small ways to emerge for the people of Vietnam –
and this must also eventually touch people of other nations. Then all of Uoc’s
diligent efforts will have been worthwhile. In any event I commend his ambition
and his spontaneous and dedicated labours and wish him well.
My admiration and affection for Vietnam and its courageous and highly
distinctive people have grown constantly from the moment I began to research and
write SAIGON. Renewed involvement with Vietnam which has been triggered by the
emergence of Trang Huyet and the republication in Britain of a new 2005 English
edition of SAIGON has therefore been a source of great pleasure to me. So may I
thank all concerned and wish those who read these pages enduring peace and
growing harmony in their daily lives.
3. LỜI GIỚI THIỆU
của Nguyễn Minh Diễm
Năm 1982, một nhà báo Anh từng làm việc và trải qua tù đày tại Trung Quốc nhưng
chưa bao giờ đặt chân đến Việt Nam tên là ANTHONY GREY xuất bản cuốn tiểu thuyết
SAIGON dày gần 800 trang khổ lớn (bản in của Nxb Little, Brown and
Company-Boston-Toronto năm 1982 dày 787 trang kể cả bạt). Có thể nói Saigon
trước hết là một tiểu thuyết lịch sử, vì nó dựa trên những sự kiện có thật,
những diễn biến có thật, nhiều nhân vật có thật và các tình tiết của truyện trải
dài theo dòng chảy của 50 năm lịch sử Việt Nam, từ 1925 đến 1975. Nó còn mang ý
nghĩa lịch sử hơn khi mà để xây dựng tác phẩm, Anthony Grey đã phải bỏ ra suốt
ba năm nghiên cứu sách vở tại các thư viện và thư khố ở Paris, Luân đôn,
Washington D.C. và đại học Harvard. Ông đã tham khảo vài trăm cuốn sách và hàng
ngàn tài liệu liên quan đến Việt Nam. Ông cũng từng gặp, trao đổi và xin ý kiến
của các sử gia, nhà nghiên cứu và nhà báo nổi tiếng thế giới về những vấn đề của
Việt Nam. Trong đó, có chuyên gia về Việt Nam trước thế chiến thứ hai Virginia
Thompson; chuyên gia về Điện Biên Phủ Jules Roy, nhà nghiên cứu Mặt Trận Giải
phóng Miền Nam Douglas Pike, tiểu thuyết gia Frank Snepp và nhiều người khác
nữa, kể cả các chuyên gia về tình báo và quân sự ở Đông Nam Á. Tinh thần và cung
cách làm việc như thế cho thấy tham vọng của Grey là dựng lại cả một giai đoạn
lịch sử của Việt Nam như một tổng hợp, như một bức tranh toàn cảnh. Chính vì
tinh thần làm việc nghiêm túc như thế mà Saigon đã được dùng như tài liệu giảng
dạy về hai cuộc chiến Đông Dương cũng như lịch sử Việt Nam cho sinh viên sĩ quan
Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis. Tác phẩm cũng đựơc dịch từng phần để làm
sách tham khảo cho sinh viên sĩ quan của Học viện Quân sự Hà Nội, theo bức thư
Anthony Grey viết cho Nguyễn Ước được in lại ở cuối sách.
Nhưng trước hết, Saigon là một tiểu thuyết, cho dù nó có bám sát lịch sử đến
đâu, và Anthony Grey khi viết cuốn truyện dài này đã có một mục đích rõ rệt, như
ông xác nhận sau đó, là mang đến sự hoà giải, để “góp phần hàn gắn những vết
thương khủng khiếp và những đau khổ mà người dân ở mọi phía trong xứ sở Việt Nam
vốn đã bị tả tơi vì một cuộc chiến quá dài, dài hơn của bất cứ xứ sở nào”. Chính
vì hoài bão mục đích ấy, mà các nhân vật trong Saigon đều được Anhony Grey cho
một sức sống mãnh liệt, kiên quyết và có phần cực đoan, mê mị, lúc yêu đương
cũng như lúc thù hận, lúc sống, cũng như lúc chết. Nếu coi Saigon là một sân
khấu, thì những con người mà Anthony Grey tạo ra và đưa lên sàn diễn đều đã sống
hết mình, hoạt động hết năng lực và không nghỉ ngơi trước khi rời khỏi ánh đèn.
Những tính cách mạnh mẽ, năng động và cực đoan ấy của nhân vật có thể là do bản
tính cá nhân, có thể là do hoàn cảnh hun đúc, mà cũng có thể là do một thế lực
nào đó cố tình huấn luyện để sử dụng, nhưng nhất định chúng là nguồn gốc sâu xa
của tấn bi kịch kéo dài quá lâu nơi đất nước Việt Nam, và khiến dân tộc chúng ta
đã phải trả một giá quá đắt.
Tuy nhiên, dù Anthony Grey tài ba cách nào thì ông cũng vẫn là một người phương
Tây từ ngoài nhìn vào đất nước Việt Nam, ông có tài giỏi cách mấy thì ông vẫn
không thể nhập vai người Việt Nam, và khung cảnh sống cũng như các nhân vật ông
tạo ra vẫn không tránh khỏi có phần khập khiễng, lạc loài dưới con mắt phân tích
của độc giả người Việt vì họ chỉ là “người Việt gốc ngoại”, được xây dựng từ
kiến thức, sách vở về đất nước, con người cũng như lịch sử và văn hoá Việt Nam.
Tuy nhiên, giống như công chúa ngủ trong rừng, Saigon đã gặp NGUYỄN ƯỚC, để
khung cảnh và các nhân vật của nó được thổi một luồng sinh khí Việt Nam để chúng
được tái đầu thai. Nguyễn Ước đã làm một công việc chưa từng có là viết thêm vào
một cuốn tiểu thuyết đã xuất bản và đang lưu hành. Từ trên 800 trang của Saigon,
ông đã viết thêm khoảng 1/3 nữa để thành trường thiên tiểu thuyết TRĂNG HUYẾT
dài hơn 1200 trang (Bản in của nhà xuất bản Nhân Văn, Canada năm 2004 gồm hai
cuốn cùng khổ với SAIGON, dày 621 trang và 645 trang). Mặc dù giữ nguyên bố cục
của Saigon với tám phần, bắt đầu từ năm 1925 đời vua Khải Định, cho đến cuối
tháng Tư năm 1975, Nguyễn Ước đã “viết chêm vào, khi thì trọn một chương, khi
thì vài đoạn nghĩ tưởng, vài lời đối thoại, nhiều nhân vật phụ, v.v. để chính
đính, minh hoạ; đào sâu tâm lý của các nhân vật người Việt, bổ túc nhiều chi
tiết về hoàn cảnh chính trị, khuynh hướng cách mạng bản địa và thời đại, sự kiện
lịch sử, nghi lễ cung đình, phong cảnh, nếp nghĩ, tục lệ và văn hoá dân tộc,
v.v.” và điều mà ông “chủ tâm hơn cả là cố gắng để nói lên Việt tính của nhân
vật và sự kiện, đồng thời trình bày sao cho hợp với cảm quan của độc giả người
Việt”.
Chính trong ý nghĩa ấy, có thể nói là Nguyễn Ước đã góp phần sáng tạo các nhân
vật, và cả khung cảnh sinh hoạt nữa để họ trở thành những người Việt Nam, sống
trong xã hội Việt Nam với những nét văn hoá đặc thù và nhờ thế mà độc giả người
Việt chúng ta có thể buồn vui theo họ. Nguyễn Ước quả nhiên cũng là một tác giả,
và điều độc đáo đã được thực hiện: một tác phẩm tổng hợp của hai người chưa bao
giờ gặp nhau, hoàn thành phần nọ cách phần kia hơn 20 năm đã ra đời như một tổng
hợp của kiến thức, tài năng và cảm tính.
Trường thiên tiểu thuyết TRĂNG HUYẾT kết thúc khi chiếc máy bay trực thăng cuối
cùng rời khỏi sân thượng toà đại sứ Mỹ tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố
Sàigòn rạng sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, như một dấu chấm hết cho cái tên
“Saigon” từng tồn tại gần 300 năm trước của thành phố được mệnh danh là “hòn
ngọc Viễn đông”. Rất có thể sự bức tử của cái tên ấy đã khiến nó được dùng làm
tên cho cuốn tiểu thuyết của Anthony Grey. Còn tên Trăng Huyết mà Nguyễn Ước đặt
cho cuốn tiểu thuyết viết chung với Grey từ Saigon thì lại thành hình từ nỗi xúc
động khi trôi theo nửa thế kỷ đau thương ly loạn trên khắp đất nước Việt Nam vì,
như ông nói ở cuối sách, “trăng huyết” là trăng đỏ như máu, trăng báo điềm, và
làm chứng cho nửa thế kỷ đau thương của đất nước.
Khởi điểm của truyện là năm 1925, khi mà sự thống trị của thực dân Pháp tại Việt
Nam bắt đầu gần 70 năm trước đó đang bị lung lay tận gốc bởi sự hà khắc của chế
độ thực dân đã lên đến cực điểm, cũng có nghĩa là nỗi hận thù của dân chúng đã
đến mức không thể đè nén được, trong khi số người đựơc giáo dục theo Tây học, có
kiến thức về nhân quyền, dân quyền thì đã đủ để trở thành một lực lượng lãnh đạo
có khả năng.
Năm mươi năm của cuốn trường thiên tiểu thuyết Trăng Huyết có thể coi như giai
đoạn sôi động nhất trong lịch sử cận và hiện đại Việt Nam, nếu so sánh với 25
năm trước đó, và 30 năm sau đó. Mà sôi động thật, vì một khi đã bắt đầu bắt đầu
dở sách ra, thì người đọc liền bị cuốn hút vào nhịp sống sôi nổi của các nhân
vật, sự mãnh liệt và cuồng nhiệt của từng cảnh huống cũng như sức đi vũ bão của
các sự kiện lịch sử. Sự thảnh thơi ngồi yên thưởng thức một ly cà phê hay một ly
rượu hình như chỉ xuất hiện một lần ở đầu truyện, khi các vị khách rồi sẽ thành
nhân vật chính của truyện mới chỉ vào đến lãnh hải Việt Nam, chứ chưa đặt chân
lên đất Sàigòn. Sau đó, thì không có lúc nào và không có ai được “rảnh rang” như
thế nữa. Tương tự như nhiều tác phẩm vĩ đại kinh điển, ngay trong phần đầu dài
151 trang của Trăng Huyết (từ gần 100 trang của Saigon, với tiểu tựa rất súc
tích và giầu hình tượng: Đời thuộc địa là thế!), tác giả đã giới thiệu các nhân
vật chính của truyện, bao gồm thành viên của bốn gia đình mang tính đại biểu cho
cái xã hội chứa đầy mâu thuẫn của Việt Nam trong suốt mấy chục năm của truyện.
Tác giả đã minh họa nhiều cảnh tượng tiêu biểu của cái xã hội phân hóa, chất
chứa vô vàn bất công, bất nhân, bất nghĩa và vô lý, cùng những đối nghịch không
thể hóa giải, để xây dựng những nhân vật có thể coi như đại diện của từng thành
phần. Những nhân vật ấy, theo diễn biến của lịch sử và định mệnh trải dài gần
1200 trang sách của 50 năm biến động nhất trong lịch sử Việt Nam, rồi đây sẽ gắn
liền với nhau bằng tình yêu cũng như thù hận. Tình yêu thì cuồng nhiệt, và hận
thù thì sục sôi, nhưng cả hai loại tình cảm ấy đều kiên định, đều cực đoan, và
đều có phần mê mị do sự tàn khốc của định mệnh, cũng như đòi hỏi của hoàn cảnh
hay phương pháp đấu tranh của các phe phái và chủ nghĩa.
Nhân vật chính của Trăng Huyết là Joseph Sherman, người Mỹ, đến Việt Nam lần đầu
tiên vào năm 1925, khi mới 15 tuổi. Cậu cùng cha mẹ và anh đến thăm miền Nam
Việt Nam, lúc ấy là một thuộc địa của Pháp. Là con của một thượng nghị sĩ, sinh
ra và lớn lên trong một quốc gia tự do dân chủ, được giáo dục về giá trị cao quý
của con người “vốn được sinh ra bình đẳng, và được tạo hoá ban cho những quyền
không ai có thể xâm phạm, trong đó có quyền đựơc sống, được tự do và mưu cầu
hạnh phúc”, Joseph đã có dịp được chứng kiến tận mắt những cảnh ngộ trong đó con
người bị đối xử như một con vật, một phương tiện, một dụng cụ, hay một trò chơi
tùy ý và tùy sức “sáng tạo” của chủ nhân, mà những chủ nhân ấy thường khi lại
bệnh hoạn, hay ít nhất lệch lạc tính dục, khiến thú vui của họ càng mang vẻ quái
đản, hoang dã và tàn bạo hơn. Đó chính là xã hội Việt Nam vào năm 1925, dưới sự
cai trị trực tiếp của người Pháp.
Cuối Phần thứ nhất, nghĩa là chỉ sau một thời gian ngắn ở Việt Nam, cậu thiếu
niên Joseph đã có những thay đổi, chuẩn bị cho cậu sẵn sàng bắt đầu chuyến phiêu
lưu trải dài đến dòng cuối của truyện: Cậu đã lần đầu tiên hưởng thú vui của dục
tình, đã gặp những nhân vật Pháp cũng như Việt rồi đây sẽ trở thành đại diện cho
những lực lượng và những phe phái chính trong cuộc chiến tranh nhiều mặt, kéo
dài nhiều giai đoạn, mà lúc nào cũng khốc liệt và không bao giờ khoan thứ. Quan
trọng nhất là Joseph gặp Kiều Lan, lúc ấy là một cô bé mười tuổi trong một hoàn
cảnh đầy kịch tính. Cô là định mệnh của cậu, vì sau đó, sợi chỉ nối kết mọi diễn
tiến trong truyện chính là mối tình vừa lãng mạn, dữ dội, vừa oan nghiệt như đã
tiền định từ kiếp nào, lại vừa mang tính đam mê sáng tạo của hai người. Mối tình
ấy, từ khi nẩy sinh, đã chi phối mọi vui buồn, mọi diễn tiến, mọi quyết định
trong đời Joseph dù chính anh ý thức được hay không.
Trong bốn người của gia đình Joseph đến thăm Việt Nam, thì đến cuối chương một,
anh trai đã chết thảm, ông bố mất một cánh tay và vĩnh viễn mang bộ mặt biến
dạng do tai nạn trong một chuyến đi săn ở gần Sàigòn. Thê thảm hơn, bà mẹ không
còn là người cậu tuyệt đối kính yêu nữa, và niềm tin về sự bình đẳng của loài
người như một tặng phẩm của tạo hoá cũng đã trôi đi theo những cơn mưa nhiệt đới
trong rừng, khi cậu đứng chết trân chứng kiến những cảnh mà cho đến cuối truyện,
và có lẽ cuối đời nữa, không bao giờ rời khỏi tâm trí của cậu.
Gia đình thứ nhì được giới thiệu trong chương đầu tiên của truyện là vợ chồng
Ngô Văn Lộc cùng hai con trai Ngô Văn Đồng và Ngô Văn Học. Đây là gia đình mà vì
lòng hận thù tổng hợp tận cùng với thực dân Pháp, đã theo cách mạng, mới đầu là
Quốc Dân đảng, rồi Việt Minh Cộng sản, và sau nữa là Bắc Việt Nam. Ước vọng duy
nhất của gia đình này lúc đầu là giết ngoại xâm, rồi sau là để trả thù. Lòng hận
thù của các thành viên trong nhà này cao và mãnh liệt đến nỗi mỗi khi họ xuất
hiện, người đọc lại hồi hộp vì biết sẽ có máu đổ, mặc dù chưa biết là ai sẽ
chết. Gia đình thứ ba là hai cha con người Pháp Jacques và Paul Devraux, lúc bấy
giờ là chủ nhân của gia đình Lộc. Jacques sau trở thành người cầm đầu mật thám
Pháp tại Đông Dương, còn Paul là sĩ quan quân đội Pháp trú đóng tại Yên Bái rồi
Điện Biên Phủ. Cuối cùng là gia đình quan đại thần Trần Văn Hiếu của Nam Triều.
Trong khi ông Hiếu trung thành với triều đình Huế và do đó cực kỳ tôn kính người
Pháp, thì người con trai thứ của ông là Trần Văn Kim lại cấp tiến và theo cách
mạng, về sau trở thành một cán bộ Cộng sản cao cấp. Con gái út của gia đình là
cô Lan mặc dù được giáo dục theo lễ giáo phong kiến, nhưng lại mang một tinh
thần nổi loạn. Cô trao thân cho Joseph sau khi gặp nhau chỉ vài lần và có một
con gái với anh ta trước khi lấy Paul. Con trai của Lan với Paul sau trở thành
sĩ quan Quân lực Việt nam Cộng hòa. Người trực tiếp bắn anh ta sau khi anh đã bị
thương cụt cả hai chân lại chính là Tuyết, con gái của Lan và Joseph. Chồng
Tuyết theo Cộng sản, nên bị chính phủ miền Nam bắt và tra tấn đến chết, để lại
cho cô hai con nhỏ. Tuyết quyết tâm đòi nợ máu nên gia nhập Mặt trận GPMN và
chạm trán tại trận địa mà không biết với người anh cùng mẹ khác cha. Tuyết và
hai con - một trai tên Chương, một gái tên Trinh, sau Tết Mậu Thân ra sống ở
ngoài Bắc. Tuyết và Chương chết mất xác trong một vụ oanh tạc của không quân Mỹ.
Trinh theo đoàn quân Nam tiến, gặp được Joseph và hai ông cháu lên được chuyến
trực thăng cuối cùng rời toà đại sứ Mỹ ở Sàigòn lúc rạng sáng ngày 30 tháng Tư
năm 1975. Câu chuyện chấm dứt với lời Joseph vỗ về bên tai Trinh: Cháu đừng lo.
Ông cháu mình an toàn rồi - mọi sự rồi sẽ ổn thoả hết.
Tác giả đã cho Joseph Sherman thực hiện một cuộc phiêu lưu kỳ lạ đầy bất ngờ dọc
theo 50 năm của lịch sử Việt Nam. Anh ghé đất nước Việt Nam nhiều lần, mỗi lần
là một cột mốc của đời anh, mà cũng là cột mốc của lịch sử. Không chỉ có mặt ở
Sàigòn vào những thời điểm đặc biệt như khi vừa chấm dứt Thế chiến hai, trong
giai đoạn cuối của Đệ nhất Cộng hòa, trong giai đoạn cao điểm của cuộc chiến,
những ngày Tết Mậu Thân, và khi Sàigòn thất thủ, Jospeh còn lái xe dọc theo quốc
lộ một, chứng kiến cảnh hoang tàn của chiến tranh và nạn đói. Anh cũng ra Huế để
thấy cảnh vua Bảo Đại thoái vị. Anh còn có mặt ở hang Pắc bó vào khi đội Tuyên
truyền Giải phóng quân bắt đầu thành lập, ở Hà nội trong ngày 2 tháng Chín năm
1945, và từng đến thăm doanh trại của quân Pháp tại Điện Biên Phủ. Joseph cũng
hiện diện tại Paris trong thời gian các phe phái đang thảo luận về dự thảo một
hiệp định đình chiến năm 1973, và tại Hoa Kỳ vào khi phong trào phản chiến lên
đến cao điểm. Chính vì thế, mà trong truyện, tất cả các sự kiện chính trong 50
năm lịch sử cận và hiện đại của Việt Nam đều đựơc nói đến. Không chỉ nói đến, mà
còn mô tả một cách tương đối chi tiết và chính xác. Không chỉ cảnh, mà cả con
người nữa cũng được mô tả bằng những nét rất sắc rất gọn, từ những nhân vật phụ
chỉ nhằm minh họa một hoàn cảnh, cho đến những nhân vật lịch sử như vua Bảo Đại,
anh em ông Ngô Đình Diệm, ông Hồ Chí Minh, ông Dương văn Minh vân vân. Bạn đọc
có thể đặt câu hỏi rằng có lý nào mà tất cả các nhân vật ấy lại có thể xuất hiện
trong dòng đời của một người thôi mà không có sự gượng ép nào trong việc xây
dựng truyện, nhưng khi dong ruổi cùng Joseph qua hơn 1000 trang của Trăng Huyết,
ta sẽ thấy là chuyện ấy xẩy ra thực, xẩy ra một cách nhuần nhuyễn và hợp lý nhờ
những thủ thuật của tác giả. Rất có thể là tác giả đã muốn tận dụng mọi kiến
thức của mình về lịch sử Việt Nam, nhưng lại nhân đó, cho chúng ta được thưởng
thức một trường thiên tiểu thuyết lịch sử hàng đầu cho đến nay.
Khi đọc đến dòng cuối của truyện, biết rằng hai ông cháu Joseph và Trinh sống,
sẽ an toàn và sẽ bắt đầu một cuộc đời mới, người đọc cảm thấy bàng hoàng vì lẽ
tất cả các nhân vật khác đều đã chết. Không một ai chết bình thường, và không
một ai chết bình thản. Tất cả đều chết dữ dội và trong hận thù:
Người chết đầu tiên là anh Chuck của Joseph, bị trâu rừng húc trong một cuộc
săn: Chuck ngã xuống, bụng bị đâm thủng, và trong khi cậu quằn quại đau đớn dưới
đất, con trâu húc cậu thêm cú nữa. Trong cú húc thứ hai, một chiếc sừng trâu
chọc vô phổi Chuck nơi vùng cao phía bên trái lồng ngực và mũi sừng nhọn hoắt ấy
đâm thấu trái tim cậu (Phần I).
Gia đình Ngô Văn Lộc chết cả nhà: Vợ Lộc chết trong tù vì bị mật thám Pháp tra
tấn. Lộc bị Pháp bắn chết ở Sàigòn trong khoảnh khắc bắt đầu cuộc Nam bộ Kháng
chiến, Học chết vì bị kết án tử hình khi thất bại trong cuộc tổng khởi nghĩa của
Việt Nam Quốc Dân Đảng, còn hai cha con Đồng thì tan xác khi được đưa từ Bắc vào
chiến đấu tại miền Nam dưới danh nghĩa của Mặt trận Giải phóng Miền Nam: Ngô Văn
Đồng đang cố hết sức kéo thi thể con trai vào miệng địa đạo thì bị bắn trúng.
Trong chớp mắt, hai quả tên lửa làm nổ tung thân thể hai cha con ra thành hàng
ngàn mảnh. Một luồng khói trắng khổng lồ và đất đen phụt lên thành hình xoắn ốc,
làm mù mịt nơi tử nạn và chung quanh họ, địa đạo sụp xuống, biến thành một nấm
mồ chôn cả cha lẫn con (Phần VI). Cũng trong trận đánh này, Tuyết giết người em
cùng mẹ khác cha với mình.
Cả năm người của gia đình Ngô Văn Lộc, kể cả con trai của ông, đều chết không
toàn thây với lòng thù hận không nguôi, trong những tình huống khác nhau của
chiến tranh. Cái chết của họ, cũng như của hai cha con kẻ thù bất cộng đái thiên
của họ là gia đình Devraux cũng cho thấy cái sự bất tận của hận thù, một trong
những góc độ của tình hình xã hội Việt Nam trong thời gian của cuốn tiểu thuyết:
Jacques bị Cộng sản ám sát, còn Paul thì bị Việt Minh bắn chết khi Điện Biên Phủ
thất thủ, sau khi quân đội Pháp đã đầu hàng, và người quyết tâm tìm giết anh
chính là Đồng: Với vẻ mặt méo mó quằn quại, người Việt Nam ngoéo chặt ngón tay
vào cò súng tiểu liên trong vài giây, và viên sĩ quan Pháp té chúi nhủi vào vách
hầm, rồi úp mặt xuống mặt đất đầy bùn, không một tiếng kêu và không bao giờ còn
cử động. (Phần V)
Hai cha con Lan cũng không thoát khỏi cái chết nát thây ngay trên đường phố
Sàigòn vì một chú bé đang học làm biệt động thành: Khi quả lựu đạn miểng buộc
nơi bắp đùi cậu bé phát nổ, nó hất tung toàn thân Trần Văn Hiếu và cậu bé lên
khỏi mặt đất, rồi cả hai cùng rớt xuống thành một đống nhầy nhụa... Joseph nhìn
thấy thân thể Lan, nằm cách cha nàng mấy tấc, co quắp và rạn vỡ. Anh không thấy
được mặt Lan vì nằm sấp trên vỉa hè, nhưng chiếc áo lụa hồng nàng mặc biến lẹ
làng thành màu đỏ thẫm trong ánh nắng chói lọi, và khắp chân tay mảnh mai của
nàng không có một dấu hiệu động đậy nào (Phần IV).
Và rồi Tuyết, con người đau khổ bậc nhất trong truyện cũng chết bất ngờ và đau
đớn cùng con trai trong một trận đánh bom của B 52 tại Hà Nội: Trinh [con gái
của Tuyết] nhìn chòng chọc thi thể dập nát của Tuyết và Chương vừa được người ta
kéo lên, chung một lượt. Hai mẹ con đang rúc vào người nhau khi quả bom xoáy
trúng hầm trú ẩn, và mẹ con cùng chết trong khi còn ôm lấy nhau (Phần VIII)
Và còn nhiều cái chết khác nữa, kể cả chết vì bị ném xuống biển, như nhân vật lạ
lùng nhất trong truyện là Đào Văn Lật.
Song song và ẩn hiện sau những cái chết ấy là hận thù. Trong Trăng Huyết, người
ta không hận thù một người hay một dòng họ, mà hận thù từng nhóm người, từng
giai cấp, từng tập thể, hay cả dân tộc, nên hận thù mang tính hàng hàng lớp lớp
và không ai thấy mình đủ thời gian cũng như sức lực để giết hay để trả hận. Máu
lại đòi thêm máu và máu tạo thêm máu. Chính vì thế mà trong truyện, có khi người
ta gào thét trước khi giết, và đâm chém thêm, nã súng thêm vào thây ma sau khi
giết. Ít khi có tiểu thuyết nào mà con người đối xử với nhau tàn bạo đến thế, và
cũng ít tiểu thuyết nào mà tác giả lại tàn nhẫn với các nhân vật của mình đến
thế.
Có thể là tác giả muốn cực tả sự tàn bạo và phi nhân của chiến tranh nói chung
và cuộc chiến nhiều mặt ở Việt Nam nói riêng. Nếu thế, thì sự bàng hoàng của
người đọc khi gấp sách lại, và sự rờn rợn suốt thời gian đọc truyện, khi thấy
những dòng chữ đầy máu đổ thịt rơi hóa ra lại là sự thành công của tác giả. Dân
tộc ta quả nhiên đã mang những vết thương khủng khiếp trong một cuộc chiến quá
dài, quá rộng và quá tàn nhẫn.
Virginia, Hoa Kỳ,
Mùa thu 2004
4. Thay Lời Bạt
của Hoàng Khởi Phong
1.
Đối với các học giả và các nhà nghiên cứu lịch sử và chiến tranh Việt Nam, trong
các thư viện người ta có thể tìm thấy hàng ngàn tác phẩm được nhìn bởi nhiều góc
độ, của những tác giả Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản, và tất nhiên không thể
thiếu của những tác giả Việt Nam đóng góp cách nhìn của mình vào ngay những dòng
máu của người đồng chủng, mà có thể chính những tác giả người Việt cũng như
những tác giả ngoại quốc ấy đều đã can dự không ít vào việc khơi cho những dòng
máu này chẩy mạnh hơn, lớn hơn hoặc làm cho chúng bớt gia tăng cường độ.
Về phía các tác giả người Việt, tôi muốn nói tới các hồi ký chính trị của những
người từng ngự trị trên đỉnh quyền lực của hai miền Nam và Bắc, những lãnh tụ
của phía Cộng Sản, hay những chính trị gia của miền Nam... Tất nhiên những hồi
ký chính trị của các tác giả Việt Nam được viết bởi hai động lực tâm lý chính,
nhất là sau năm 1975 khi miền Nam sụp đổ, đã khiến cho các tác giả xuất thân từ
phía miền Bắc như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Trần Văn Trà... cùng hàng trăm
tác giả khác tha hồ thêu dệt, tô điểm cho chiến thắng của miền Bắc bằng những
chiến công được dựng lên bởi những con người đúc bằng sắt bằng thép với trí tuệ
cao vời tưởng chừng như những con người này chỉ có thể hiện diện trong các
truyện thần thoại. Đó là chưa nói tới các tác phẩm của Hồ Chí Minh, được viết từ
trước khi chiến tranh chấm dứt, vì ông từ trần vào năm 1969. Chỉ có điều cần
nhắc lại là chính ông đã dùng một cái tên khác, để viết sách tự ca tụng mình.
Trong khi đó các hồi ký của những tác giả xuất thân từ phía miền Nam thì dường
như được viết ra chỉ nhằm để phân bua với mọi người rằng mình không có lỗi, rằng
mình không mang chút trách nhiệm nào trong việc miền Nam thất thủ, và rằng miền
Nam mất là vì bị người Mỹ bỏ rơi, hay vì lỗi của những kẻ khác. Hầu như các tác
giả xuất thân ở phía miền Nam không một ai thành khẩn đấm vào ngực mình để nói
lên phần nào trách nhiệm của chính mình, nhận một phần lỗi lầm, dù thật nhỏ,
trong việc thất trận của miền Nam. Kể từ năm 1975 tới nay, các tướng lãnh của
miền Nam từng ngự trên đỉnh cao quyền lực như Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện
Khiêm, Nguyễn Đức Thắng... đã khóa miệng mình thật chặt, trong khi vài tướng
lãnh khác như Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Trần Văn Đôn... dùng những cuốn
sách đầu Ngô mình Sở của họ để đổ lỗi cho người khác. Bên cạnh những cuốn sách
ấy còn có hồi ký của những tác giả đã thật sự chiến đấu ngoài mặt trận nhưng
phần lớn họ là những sĩ quan trung cấp nên dù có muốn nhận trách nhiệm của mình
trước lịch sử cũng không ở trong các vị trí đủ cao để gánh vác toàn bộ trách
nhiệm, tựa như tín hữu công giáo thường thầm nhủ mình trong nhà thờ mỗi khi xưng
tội rằng: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.
Về những cuốn sách của người nước ngoài, trước tiên ta có thể thấy một điều là
các tác giả Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản dường như viết chỉ để giải thích,
phân tích và biện hộ cho nguyên nhân và bản chất sự dính líu của quốc gia họ vào
chiến tranh Việt Nam mà họ cho rằng đó hoàn toàn vì những lý tưởng cao cả. Hầu
như hiếm có tác giả người Pháp nào quy trách nhiệm việc gây ra chiến tranh Việt
Pháp là do chính bởi người Pháp xâm lăng Việt Nam và cai trị Việt Nam một cách
tệ hại. Hầu như không một tác giả Pháp nào khởi đi từ cái gốc của trận chiến, mà
chỉ nói tới cái ngọn của nó, ở Điện Biên Phủ. Các tác giả người Mỹ cũng chẳng
hơn gì. Cái gốc mà họ khởi đi là sự hiện diện của quân Mỹ ở Việt Nam, nhằm giúp
người Việt ngăn chặn Cộng Sản, để rồi họ lúng túng giải thích chương trình Việt
Nam hóa chiến tranh dưới thời Nixon, và sau cùng là những tranh cãi về hồi đại
kết cục của cuộc chiến, về nguyên nhân thất bại của miền Nam mà họ cho rằng vì
đã không chiến đấu hết sức để tự cứu mình nên không thể trông mong một nước bạn
nào có thể cứu dùm. Và hầu như cũng ít có tác giả người Mỹ nào thật sự viết về
cung cách người Mỹ hành xử như chủ nhân của vùng đất mà họ hiện diện để tham
chiến trong tư cách của một đồng minh. Cách cư xử ấy của người Mỹ đối với người
Việt cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho chiến tranh có cớ để lan
rộng.
Hàng ngàn cuốn sách viết về Việt Nam như thế đã khiến cho bất cứ nhà nghiên cứu
hoặc học giả nào cũng không tránh khỏi nhiều lần lúng túng khi đem một sự kiện
đối chiếu với nhiều tác giả khác nhau, dưới những góc độ khác nhau. Có thể nói
không một cuốn sách nào viết về lịch sử và chiến tranh Việt Nam được coi là hoàn
hảo vì không thể nào có một sự thật trọn vẹn cho chiến tranh Việt Nam, dù được
nhìn vô tư tới đâu chăng nữa, dưới bất cứ góc cạnh nào đi nữa.
2.
Là một người đọc bình thường, tôi vô cùng cám ơn Anthony Grey trong nguyên bản
Saigon và Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Như tôi đã trình bầy ở đoạn trên, không
thể tìm thấy sự thật tuyệt đối của lịch sử Việt Nam nơi các tác phẩm nghiên cứu
của các học giả cũng như nơi các cuốn hồi ký của những người từng thao túng vận
mệnh Việt Nam trong suốt thế kỷ 20. Tuy thế, người đọc có thể đi tìm những sự
thật tương đối của lịch sử nơi một tác phẩm văn chương. Tác phẩm văn chương đó
chính là Saigon của Anthony Grey, và đặc biệt là Trăng Huyết với phần đóng góp
của Nguyễn Ước vào tác phẩm gốc Saigon. Chính trong hai tác phẩm ấy người ta
thấy được trong thế kỷ vừa qua, không một dân tộc nào chịu đau khổ vì chiến
tranh nhiều tới độ như dân tộc Việt Nam đã chịu.
Thử kiểm điểm lại những cuộc chiến mà người Việt phải hứng chịu trong thế kỷ 20:
Để giành quyền sống dưới ánh mặt trời, dân tộc Việt phải đứng lên hất đổ ách đô
hộ của người Pháp. Suốt một thế kỷ ròng rã, máu của dân Việt đã chảy lênh láng
trên núi trong rừng, xác của người Việt đã trôi đầy sông ra tới biển để rồi năm
1954, trước khi người Pháp xuống tầu về nước, họ đã để lại một vết dao cắt đứt
ngang mình nước Việt. Để hàn gắn vết thương ấy, dân Việt khai diễn một cuộc
chiến khác giữa miền Bắc được chống lưng bởi thế giới Cộng Sản với đối thủ miền
Nam được hậu thuẫn bởi khối Tư Bản.
Hai thế kỷ trước đó, nước Việt cũng đã một lần bị chia hai, nhưng chiến tranh
Trịnh Nguyễn chỉ là tranh chấp giữa nội bộ dân tộc vì thế nó không thể tàn nhẫn,
khốc liệt và chết tróc nhiều tới độ như cuộc chiến Nam Bắc vừa qua, với những
thế lực ngoại cường thúc đẩy phía sau lưng của hai nửa phần dân tộc. Cuộc nội
chiến trước kia chỉ là huynh đệ tương tàn với cung tên giáo mác, thế mà xương đã
cao thành gò, máu đã chẩy thành suối. Với cuộc nội chiến thứ hai thì bên cạnh
những tranh chấp nội bộ của dân Việt, các cường quốc Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa đã
ấn vào tay người Việt vô vàn bom đạn nên máu chẩy thành sông và xương chất cao
thành núi. Cái nọc của chiến tranh trong lòng dân Việt là phải thu hồi quyền tự
quyết cho dân tộc, phải giành lấy chỗ đứng cho mình trong cộng đồng nhân loại.
Chính vì vậy gia tộc Ngô Văn Lộc, từ thế hệ này sang thế hệ khác, bằng mọi giá
phải tham gia vào cuộc chiến đấu giải phóng quê hương. Chính vì thế hai cha con
Ngô Văn Lộc và Ngô Văn Đồng khởi đầu theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng khi
VNQDĐ mất đi uy thế ban đầu, cả gia tộc ấy đã đã không ngần ngại đứng chung hàng
ngũ với Cộng Sản. Cuối cùng, khi cậu bé Ngô Văn Kiệt chết trong khuôn viên tòa
đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào năm 1968, tuy là một đặc công Việt Cộng, nhưng cậu
đã bó sát thân thể mình, bên trong bộ quần áo MTGPMN, là lá cờ VNQDĐ nguyên thủy
mà người cha Ngô Văn Đồng và ông nội Ngô Văn Lộc đã tôn thờ, chứ không phải là
lá cờ của Cộng Sản.
Chính vì phải thu hồi độc lập cho tổ quốc mà Đào Văn Lật đã không ngần ngại cắt
cụt một phần thân thể của mình, chỉ vì tin rằng sau khi phế bỏ nó, anh không còn
bị chi phối bởi tình yêu nam nữ, và như thế có thể dồn toàn tâm, toàn trí vào
cuộc chiến đấu.
Chính vì muốn lấy lại giang sơn trong tay người Pháp mà Trần Văn Kim đã quay
lưng lại với cha và anh, là những quan lại của Nam Triều. Để không bị chi phối
bởi những vướng bận gia đình, Trần Văn Kim chấp nhận sống một cuộc đời độc thân
trơ trọi hầu có thể yên tâm chiến đấu dưới ngọn cờ giải phóng. Nhưng rút cục,
sau hơn ba chục năm cống hiến toàn bộ tâm trí cho cuộc chiến đấu, trong những
tình cờ của lịch sử, Trần Văn Kim và người anh ruột Trần Văn Tâm lại cùng hiện
diện trong hòa đàm Ba Lê, nhưng ở hai vị trí đối mặt nhau nơi bàn hội nghị, như
hơn ba chục năm trước dưới mái ấm gia đình, Trần Văn Kim từng đối đầu với người
cha sinh ra mình là Trần Văn Hiếu, cũng như với Trần Văn Tâm, vì chính sách cai
trị của người Pháp. Ở bên ngoài hội nghị, Trần Văn Kim lén đi gặp lại người anh
ruột ấy sau hơn ba chục năm xa cách. Chỉ vì vài phút yếu lòng ấy mà Trần Văn Kim
đã tạo thêm cớ cho những người đồng chí trừ khử mình. Khi bị thanh trừng, Kim là
một trong những lãnh tụ hàng đầu của Cộng Sản, và là người thân tín của Hồ Chí
Minh; tuy kế thừa chủ trương của Hồ là đứng giữa những tranh chấp của Nga Hoa
anh lại bị kết tội là hữu khuynh, và bị thanh toán bởi những người Cộng Sản hiếu
chiến và cuồng tín.
Những trận chiến tôi vừa nêu là những trận chiến chính của dân Việt, chưa nói
tới những trận chiến lẻ tẻ giữa người Việt với người Anh và người Nhật, trong
giai đoạn tàn cuộc đệ nhị thế chiến, cũng như hai trận chiến xẩy ra sau năm 1975
nơi biên giới Hoa Việt phía Bắc, và nơi biên giới Miên Việt phía Nam.
Trong thế kỷ 20 vừa qua dân tộc Việt quả là người bạn đồng hành với chiến tranh,
đến độ nhiều thế hệ trẻ thơ Việt Nam đã biết đến súng đạn ngay từ khi vừa thôi
núm vú mẹ. Khi những thế hệ trẻ thơ Việt Nam này lớn lên thì nhận lãnh những vũ
khí giết người, không kém gì việc nhận những món đồ chơi mới lạ như trẻ thơ các
nước khác.
3.
Là một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc, tôi ngưỡng mộ các đóng góp của
Anthony Grey và Nguyễn Ước. Cung cách tiếp cận sự thật lịch sử của Anthony Grey
trong tác phẩm Saigon quả là điểm son cho tôi học hỏi. Để viết cuốn tiểu thuyết
ấy Anthony Grey đã bỏ ra ba năm trời lục lạo trong các thư viện, trong các văn
khố lưu trữ hồ sơ của các quốc gia từng can dự vào chiến tranh Việt Nam. Ông
cũng trực tiếp phỏng vấn một số nhân vật đầu não của các phe tham chiến, nên vì
vậy mà tác phẩm của ông tuy chỉ là một tác phẩm văn chương song nó giúp cho
người đọc hiểu thấu đáo một cách tổng quát những diễn tiến của các biến cố lịch
sử liên quan tới nước Việt trong thời cận đại.
Dưới ngòi bút của Grey, các nhân vật có thật của lịch sử và các nhân vật hư cấu
của tiểu thuyết hiển lộ như những con người thật bằng xương thịt trước mắt người
đọc. Tùy thuộc vào những biến cố lịch sử mà các nhân vật tham dự và cấu thành,
mỗi nhân vật có một cá tính riêng, một nhân cách riêng. Điển hình cho những nhân
vật này ta có thể kể tới các nhân vật do nhu cầu của tiểu thuyết như các thành
viên của bốn gia tộc gồm dòng họ Sherman của nước Mỹ, dòng họ Devraux của nước
Pháp và gia tộc Ngô Văn Lộc, gia tộc Trần Văn Hiếu của nước Việt. Tính chất di
truyền nơi tính tự cao của dòng họ Sherman, Devraux hay nơi lòng thù hận của của
các gia tộc họ Ngô và họ Trần có thể được coi là một trong những cái trục chính
của toàn bộ cuốn tiểu thuyết Saigon. Bên cạnh những nhân vật của tiểu thuyết là
những nhân vật thật của lịch sử như Hồ Chí Minh, một kịch sĩ đại tài, nhất cử
nhất động của Hồ đều được tính toán chính xác, đến độ không một khán giả nào có
thể biết được con người thật của Hồ Chí Minh. Người đọc cũng nhận thấy sự tráo
trở lật lọng nơi những những lãnh tụ Cộng Sản như Lê Đức Thọ, cung cách ứng xử
trịch thượng của Kissinger, thái độ thụ động của các tướng lãnh Dương Văn Minh
và Nguyễn Văn Thiệu.
Là một nhà văn tự học qua trường đời và qua các tác phẩm của những nhà văn đi
trước, tôi không học Anthony Grey cách hành văn. Nhưng tôi học được trong tác
phẩm Saigon rất nhiều điều về cách sử dụng những chi tiết lịch sử cho một cuốn
tiểu thuyết lớn, bao trùm một không gian rộng gồm những biến động xẩy ra tại
nhiều quốc gia và trải một thời gian dài suốt hơn nửa thế kỷ.
Sau cùng tôi muốn nói tới những đóng góp của Nguyễn Ước trong Trăng Huyết. Kể từ
khi văn học Việt Nam chuyển từ văn chương Hán Nôm sang văn chương quốc ngữ đã
được hơn một thế kỷ. Trong thời kỳ văn học mới ấy, văn chương Việt Nam, bằng
những bản dịch, đã tiếp nhận rất nhiều tác phẩm của các nền văn học khác. Một
trong những người tiên phong trong việc phỏng dịch các tác phẩm ngoại quốc có
thể kể đến Hồ Biểu Chánh. Một số truyện của tác giả này là những phó bản của các
tác phẩm viết bởi các nhà văn Pháp của thế kỷ 19. Điều đáng nói là Hồ Biểu Chánh
không hề ghi chú rằng ông đã mượn cốt truyện của các tác giả ngoại quốc để
chuyển đổi câu chuyện cho phù hợp với đời sống của người Việt ở trên đất Việt.
Thời của Hồ Biểu Chánh là giai đoạn đầu của văn chương quốc ngữ. Cũng phải nói
ngay là ông có công giúp cho các độc giả người Việt không có khả năng đọc tác
phẩm ngoại quốc, có thể cảm nhận được các tác phẩm ấy. Sau Hồ Biểu Chánh một vài
thập niên, cũng có một vài tiểu thuyết gia chuyên phóng tác các truyện ngoại
quốc, vì nhu cầu của người đọc càng ngày càng tăng, tuy nhiên các cuốn sách này
được ghi rõ là phóng tác, và phần lớn nhằm để giải trí cho người đọc hơn là
những tác phẩm văn học. Sau cùng là những tác phẩm văn học được dịch đầy đủ với
toàn bộ câu chuyện, đã giúp cho người đọc ở Việt Nam tiếp cận thật sự với nền
văn học của các nước khác.
Tác phẩm Saigon của Anthoney Grey được hoàn tất năm 1982, với chiều dầy khoảng
bẩy trăm trang, khi được Nguyễn Ước tiếp cận vào năm 2000 đã trở thành một cuốn
tiểu thuyết khác, với một cái tên khác, là Trăng Huyết, có chiều dầy hơn một
ngàn trang và khổ sách cũng lớn hơn. Để hình thành Trăng Huyết, bản thân Nguyễn
Ước, theo như ông kể lại ở phần Tái bút, cũng bỏ ra nhiều năm trời sưu tầm, kiểm
tra các tài liệu lịch sử và tham quan các địa điểm được dùng làm bối cảnh cho
câu chuyện.
Nơi bìa trước của cuốn Trăng Huyết, người đọc nhận thấy hai tên tác giả Anthony
Grey và Nguyễn Ước được đặt cùng một hàng. Trong các trang đầu của cuốn sách
người đọc bắt gặp lá thư của Anthony Grey gửi cho độc giả của Trăng Huyết; ông
viết không phải với tư cách của một tác giả cho phép dịch tác phẩm của mình sang
một ngôn ngữ khác, mà là đồng thuận việc Nguyễn Ước cùng đứng tên với ông làm
đồng tác giả của cuốn Trăng Huyết, bởi vì Trăng Huyết đã có những đóng góp đáng
kể của Nguyễn Ước đến độ Anthony Grey không thể phủ nhận những đóng góp ấy.
Khi so sánh hai cuốn sách, người đọc có thể thấy trong khoảng bốn trăm trang
đóng góp của Nguyễn Ước là những bổ túc cần thiết cho nguyên bản Saigon, bởi vì
sau hai chục năm tác phẩm này hoàn thành, đã có những tư liệu mới được các văn
khố Pháp, Mỹ, Nga, Hoa cho công bố. Điều đặc biệt là những gì Nguyễn Ước đóng
góp đã đan chặt lại với nguyên bản, như là một tấm lụa được dệt nguyên thủy, chứ
không phải là một miếng vải khác đắp vào một tấm lụa bị hư hỏng vài đoạn. Trong
Trăng Huyết có những đoạn được viết thêm vào trong các chương, hơn thế nữa
Nguyễn Ước đã dựng thêm một số nhân vật, cũng như đôi khi đã viết hẳn một
chương.
Điều thứ hai mà tôi bắt gặp trong tác phẩm này chính là chất văn chương trong
toàn tác phẩm, dù được viết bởi nguyên bản Saigon của Anthony Grey, hay là bản
dịch và sự đóng góp thêm vào trong Trăng Huyết của Nguyễn Ước. Cả hai tác giả
này đã cho người đọc thấy cách sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời trong toàn cuốn sách.
Với hơn 1000 trang sách của bộ tiểu thuyết Trăng Huyết, Anthony Grey và Nguyễn
Ước đã làm được một kỳ công trước đó hầu như chưa một cuốn sách nào đáp ứng
được, là gói trọn lịch sử và chiến tranh Việt Nam cận đại của năm chục năm từ
1925 cho tới 1975. Tất cả những biến động lớn nhất xẩy ra cho Việt Nam trong nửa
thế kỷ này, được ngòi bút tài ba, và tấm lòng ngùn ngụt của hai nhà văn này đúc
lại thành một tác phẩm mà bất cứ ai quan tâm tới Việt Nam đều nên đọc.
Sau cùng tôi muốn nói về Trăng Huyết và những gì tôi học được ở Saigon của
Anthony Grey qua Trăng Huyết với sự đóng góp của Nguyễn Ước là những bài học quý
giá cho một nhà văn không được đào tạo bởi trường ốc. Tôi chân thành ngưỡng mộ
và cám ơn cả hai tác giả đã cho tôi đọc lịch sử cận đại của nước tôi, trong một
cuốn tiểu thuyết hay nhất về chiến tranh Việt Nam.
5. Đài Á Châu Tự Do (RFA)
Phỏng vấn Nguyễn Ước
Như thường lệ vào tối Thứ Bảy hàng tuần, Tạp chí Văn học do Phạm Điền phụ trách
lại đến với quí vị thính giả.
Phạm Điền:
Tạp chí Văn học Nghệ thuật và Phạm Điền thân chào quí vị thính giả.
Việt Nam với máu xương chồng chất trong nửa thế kỷ vừa qua trở thành một đề tài
cho giới cầm bút người Việt cũng như người nước ngoài khai thác. Thoạt đầu, một
nhà văn người Anh là Anthony Grey dựng một tiểu thuyết đặt tên là SAIGON, xuất
bản tại Bắc Mỹ vào năm 1982. Khi đọc cuốn sách này, ông Nguyễn Ước đã bị thu hút
vì những tình tiết giăng mắc trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Ông Nguyễn Ước đã
dịch cuốn này nhưng có sáng kiến thêm thắt một số chi tiết khác nữa. Ông đã đề
nghị với tác giả và được tác giả Anthony Grey đồng ý.
Từ đó, ông Nguyễn Ước đưa thêm một số nhân vật phụ và các chi tiết khác vào
SAIGON, với khoảng một nửa trong tổng số trang, làm tăng sự phong phú cho tác
phẩm. Kết hợp độc đáo này khiến SAIGON được tái tạo với tựa đề mới là TRĂNG
HUYẾT.
Để thính giả khắp nơi biết thêm về công trình này, chúng tôi liên lạc với ông
Nguyễn Ước và được cho biết thêm một số chi tiết qua cuộc phỏng vấn dưới đây.
Phạm Điền: Kính chào tác giả Nguyễn Ước. Thưa ông, trước hết xin ông cho thính
giả biết một số chi tiết về ông và duyên nợ của ông đối với văn chương.
Nguyễn Ước: Thưa anh Phạm Điền và thưa quí vị thính giả của đài Á châu Tự do,
Tôi người gốc Quảng Bình. Năm 1954, di cư vào Huế. Học xong Đại học Sư phạm Huế,
tôi dạy Văn và Sử tại Tuy Hòa và làm chuyên viên phát triển xã hội cho Caritas
Việt Nam.
Từ sau tháng 4 năm 1975, tôi sống loanh quanh ở Sàigòn và lục tỉnh suốt 12 năm,
và 2 năm sống ở Hà Nội. Năm 1989, tôi vượt biển sang đảo Galang, Indonesia. Từ
năm 1991, định cư tại Toronto, Canada. Trước năm 1975, có xuất bản một tập thơ
và một vở kịch. Tại Canada, tôi in được trên 10 cuốn. Hiện nay có khoảng 7 cuốn
về văn học và đạo học đã được tái bản trong nước dưới thương hiệu của các NXB
Văn Học, Thông Tin Văn hóa, Hội Nhà Văn Hà Nội...
Phạm Điền: Thưa ông Nguyễn Ước, xin ông cho biết trong trường hợp nào ông đã
biến SAIGON thành TRĂNG HUYẾT, và lý do xuất hiện của nó cũng như cảm hứng đó
đến từ đâu?
Nguyễn Ước: Thưa anh, có lẽ đến từ những hoài bảo, gian nan và ưu tư của mình về
hoàn cảnh đất nước và những chết chóc hoạn nạn của thân nhân, bè bạn.
Năm 1989, tôi tình cờ bắt gặp tại đảo Galang cuốn SAIGON của Anthony Grey xuất
bản năm 1982. Ban đầu chỉ mày mò đọc để học Anh văn, rồi càng đọc càng cảm động,
cứ lẩm bẩm: “Người ta nước ngoài mà còn viết tới như thế này!” Tuy trong đó có
vài điểm tôi cảm thấy lấn cấn nhưng tôi tâm đắc với ý tưởng chủ đạo của tác giả,
rằng dân tộc Việt Nam ta đang bị cuộn chặt bởi tầng tầng lớp lớp thù hận và rằng
để thành công trong công cuộc cứu nguy dân tộc thì phải giữ gìn và phục vụ toàn
thể các chi thể của dân tộc.
Tôi nghĩ tại sao mình lại không vừa dịch ra vừa viết bổ túc nếu cần. Rồi thì, từ
nhan đề SAIGON, thủ đô của miền nam, thành phố định mệnh đối với cuộc đời của
nhân vật chính, tôi đổi thành TRĂNG HUYẾT, trăng đỏ như máu, trăng báo điềm và
làm chứng cho nửa thế kỷ đau thương ly loạn trên khắp nước Việt Nam.
Còn lý do cụ thể để ra mắt gấp Trăng Huyết vì năm nay kỷ niệm 50 năm trận đánh
Điện Biên Phủ và sang năm là kỷ niệm 30 năm Sàigòn thất thủ. Với hai thời điểm
đó, tôi nghĩ có lẽ độc giả dễ chú ý tới bộ trường thiên tiểu thuyết Trăng Huyết
và đề tài của nó hơn lúc nào hết.
Phạm Điền: Thưa ông, TRĂNG HUYẾT có nhiều nhân vật khác nhau, lối sống khác
nhau, thuộc nhiều thế hệ và trong bối cảnh xã hội cũng khác nhau, nhưng có chung
là hoàn cảnh ly loạn của đất nước trải qua nhiều triều đại lịch sử. Sự dàn dựng
phong phú đó chắc hẳn cũng có lý do? Nhưng phần thực của nó là bao nhiêu và phần
vẽ lại lịch sử của nó thì như thế nào?
Nguyễn Ước: Thưa anh, truyện Trăng Huyết bắt đầu từ năm 1925 với các nhân vật
gắn bó đời mình vào dòng lịch sử cách mạng và chiến tranh của Việt Nam.
Các nhân vật chủ yếu xuất xứ từ bốn gia đình: —Nathaniel Sherman, người Mỹ,
thượng nghị sĩ —Jacques Devraux, người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh tra mật thám
—Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ Nam kỳ —và Ngô văn Lộc, người “bồi” của J.
Devraux, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.
Không gian truyện là Việt Nam, Paris, Washington, Anh. Thời gian kéo dài từ năm
1925 khi nền đô hộ của Pháp vững vàng nhất, cuộc vận động cách mạng của các sĩ
phu cựu học chuyền sang các thanh niên tân học, với những ngày Pháp đàn áp tàn
bạo các phong trào chống thuế của nông dân, cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ, Sô viết
Nghệ Tỉnh, hành tung của Hồ Chí Minh, nạn đói Ất Dậu, tới trận đánh Điện Biên
Phủ, vụ ám sát Ngô Đình Diệm, biến cố Mậu Thân và sau cùng, cuộc thất thủ
Sàigòn.
Lý do dàn dựng mà anh gọi là phong phú đó chỉ cốt để trình bày đời sống, tư duy
và cảm xúc của các nhân vật hư cấu hoặc có thật trong suốt 50 năm nghiệt ngã với
hận thù cá nhân, gia tộc, dân tộc chồng chất và quyện chặt vào nhau, trong đấu
tranh và chiến tranh giữa hai bên. Một bên là những người lấy dân tộc chủ nghĩa
làm nền tảng, một bên là những kẻ lấy cộng sản bôn-sê-vich làm phương pháp. Rồi
cuối cùng người dân cả hai miền bị cuốn vào vòng quay chiến tranh lạnh, trong sự
thất trận của người Pháp, tháo chạy của người Mỹ và đất nươc Việt Nam điêu tàn
xơ xác...
Có thể xem Trăng Huyết là hư cấu vì các nhân vật chủ lực của nó là hư cấu. Cũng
có thể xem Trăng Huyết là một thực tế vì nó đề cập đến rất nhiều nhân vật có
thật trong suốt 50 năm lịch sử; họ chi phối và làm điêu đứng các nhân vật hư
cấu. Trăng Huyết được đặt trong những biến cố có thật mà một số tồn đọng cho tới
hôm nay.
Nói như thế nhưng Trăng Huyết không có tham vọng lý giải hoặc vẽ lại lịch sử vì
mọi kết luận về biến cố lịch sử chỉ là kết quả tạm mà thôi, và chính các sử gia
cũng phải liên tục tìm kiếm.
Trăng Huyết chủ yếu là một tác phẩm văn học. Có thể tiêu khiển qua cốt truyện
gay cấn với đầy đủ các tình huống yêu đương, chiến tranh và chết chóc. Nhưng nội
dung của nó cố đào thật sâu tâm tư tình cảm của các nhân vật với những gút mắc
trong tình yêu, cách mạng và chiến tranh. Hướng mà Trăng Huyết nhắm tới là cùng
với độc giả, qua văn chương và nghệ thuật, nhìn sâu vào lòng mình, nhìn lại quá
khứ và hoàn cảnh để góp phần xóa ngộ nhận, giải hận thù, để cùng nhau yêu thương
trong tình người và sống hoà hợp trong nghĩa đồng bào.
Phạm Điền: Thưa ông, như ông vừa nói thì Trăng Huyết ban đầu do tác giả Anthony
Grey viết dưới tên là SAIGON, sau nhờ sự đóng góp thêm của ông, một số nhân vật
phụ và những chi tiết về vấn đề lịch sử lại được ông thêm vào cuốn này. Ông có
thể cho thính giả của đài chúng tôi biết làm thế nào ông có cơ duyên và có khả
năng phối hợp được một kết cấu như vậy?
Nguyễn Ước: Thưa anh, có lẽ cái chính là với cảm quan thiên phú của nhà báo và
nhà văn, Anthony Grey thấu hiểu được lịch sử và dân tộc Việt nam dù khi viết
cuốn SAIGON, ông chưa hề tới Việt Nam bao giờ. Nhưng mà như thế thì ông ấy chỉ
có thể dựa vào những tài liệu có được trước năm 1982 mà thôi. Khi bắt tay tái
chế cuốn SAIGON của Anthony Grey thành TRĂNG HUYẾT tôi tự hỏi tại sao mình không
nỗ lực trình bày cái nhìn của người trong cuộc để hợp thành một tác phẩm đa diện
cho độc giả người Việt. Nhất là từ năm 1982 tới nay, đã biết thêm nhiều sự thật
và có thêm nhiều tài liệu, và người Việt lúc này, nam cũng như bắc, thế hệ già
cũng như thế hệ trẻ, cũng đã nhìn quá khứ và cuộc chiến cũng như nhìn nhau bình
tĩnh, độ lượng và đồng cảm hơn trước đây.
Tôi sưu tầm thêm tài liệu, về Việt Nam tới các địa điểm mà Anthony Grey đề cập
tới trong cuốn SAIGON, phỏng vấn những người liên hệ. Rồi trong khi chuyển ngữ
thành TRĂNG HUYẾT ngang đâu thì tôi bổ túc ngang đó. Khi nguyên một chương, khi
thì vài nhân vật, về tôn giáo, về phong tục và phong cảnh, về biến cố lịch
sử.v.v... Có khi thay đổi hẳn cái nhìn nguyên thủy của Anthony Grey về những
người dân tộc chủ nghĩa, VNQDĐ, quân dân miền nam, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Nhu,
Dương văn Minh,v.v...
Sau đó tôi truy cập và may mắn tìm ra A. Grey trên internet. Nhận được bản thảo
tiếng Việt và các emails trả lời của tôi về việc tôi giữ nguyên cốt truyện và
giải thích những gì tôi thêm bớt, Anthony Grey chẳng những không phản đối mà còn
hào phóng khích lệ, hy vọng sẽ có sự đóng góp tích cực của tôi khi một ngày nào
đó SAIGON được quay thành phim.
Phạm Điền: Thưa ông, xem thế thì TRĂNG HUYẾT cũng giống như một bản nhạc được
hoà âm, được phối hợp lại độc đáo. Ông có nghĩ rằng điểm đặc sắc ấy sẽ thu hút
được độc giả trong khung cảnh hiện nay, khung cảnh của 30 năm sau khi chiến
tranh kết thúc và người Việt hiện nay đang tản mạn khắp năm châu bốn biển?
Nguyễn Ước: Thưa anh, trước hết xin cám ơn lời khen của anh. Sự hòa âm mà như
anh khen đó nếu có giữa hai tác giả Anh và Việt thì có lẽ là mới lạ đối với độc
giả, còn độc đáo hay không thì tôi không dám nói. Tuy các độc giả của ta tản mác
nhưng tôi cảm thấy hình như dạo sau này, các độc giả, nhất là độc giả lớn tuổi,
lại thích đọc các tác phẩm liên quan tới chính trị và đạo học. Cái khó là hiện
này việc phát hành sách ở hải ngoại gần như bế tắc. Tại Canada, lần in thứ nhất
vừa qua với 500 ấn bản đã được độc giả ở Canada tiêu thụ gần hết. Tôi đang tìm
người tái bản ở California để tiện việc phát hành ra khắp nơi tại hải ngoại.
Phạm Điền: Với kết quả tốt mà ông nhận được đó, ông có dự tính viết tác phẩm
khác không, và độc giả có thể chờ đợi gì nơi tác phẩm sắp tới của ông?
Nguyễn Ước: Thưa anh, là người viết văn thì lúc nào cũng có nhiều dự tính. Cưu
mang thì có nhưng hoàn tất chắc là còn lâu. Có lẽ tôi cũng sẽ cố gắng để viết
một bộ trường thiên tiểu thuyết nữa, lấy bối cảnh giai đoạn lịch sử từ năm 1975
tới năm 1990 hoặc 1995. Hiện nay, có một bộ như Trăng Huyết được dư luận chú ý
là cực kỳ may mắn trong cuộc đời viết văn rồi. Có lẽ tôi cũng chẳng có tham vọng
gì hơn nữa. Và lúc này, tôi lại quay về với việc nghiên cứu và dịch thuật của
mình.
Và nhân đây, xin thêm lần nữa cám ơn anh Phạm Điền, quí vị thính giả, và các
thân hữu, các tạp chí đã cổ vũ và hỗ trợ cho cuốn Trăng Huyết.
Phạm Điền: Chúng tôi thành thật cám ơn nhà văn Nguyễn Ước đã dành cho cuộc phỏng
vấn này.
Chào ông.
ở Phát trong Chương trình 11:00 tối, ngày 14.8.2004
6. Sơ lược cốt truyện
Trăng Huyết là tiểu thuyết sử thi, lấy bối cảnh Việt Nam từ năm 1925 tới sáng
ngày 30.4.1975. Nhân vật chủ yếu xuất xứ từ bốn gia đình: (1) Nathaniel Sherman,
người Mỹ, thượng nghị sĩ; (2) Jacques Devraux, người Pháp, cựu sĩ quan rồi thanh
tra mật thám; (3) Trần văn Hiếu, quan sứ thần, phú hộ tại Nam kỳ; (4) Ngô văn
Lộc, chống Pháp, theo chủ nghĩa dân tộc rồi cộng sản.
Phần Thứ Nhất : Đời thuộc địa là thế (1925)
Thượng nghị sĩ Mỹ Nathaniel Sherman mang vợ, Flavia, và hai con, Chuck 21 tuổi,
kẻ được ông kỳ vọng sẽ làm tổng thống Mỹ, và Joseph 15 tuổi tới du lịch Sàigòn
và săn thú tại vùng Định Quán cho Nhà bảo tàng Vạn vật học của dòng họ ông ở
Washington. Người hướng dẫn săn bắn là Jacques Devraux, cựu sĩ quan và đang làm
mật thám cho Nha Liêm Phóng Đông Dương. Devraux góa vợ, trung thành với nước
Pháp. Ngượỉc lại, con trai của y, Paul, 18 tuổi, lại rất có cảm tình với người
Việt. Tài xế và bồi của Jacques, Ngô văn Lộc là đảng viên Tâm tâm xã. Hai vợ
chồng vừa giúp việc vừa theo dõi Jacques. Lộc có hai con là Đồng, 13 tuổi và
Học, 11 tuổi, thích nô đùa với Paul và Joseph trong trại săn. Trước đó, trong
đêm tiếp tân tại Dinh Thống đốc Nam kỳ, Joseph quen với gia đình Trần văn Hiếu
là quan sứ thần tại Sàigòn. Hiếu thuộc một gia tộc hợp tác với Pháp từ lúc Pháp
bắt đầu chiếm Nam kỳ nên trở thành đại địa chủ. Hiếu có 2 con trai, Tâm 12 tuổi,
Kim 11 tuổi và Kiều Lan 10 tuổi.
Trong lần gặp gỡ ấy, Joseph cứu nạn cho gia đình Hiếu khi rượt bắt lại con khỉ
nhỏ của Lan mà Kim mang theo rồi để sổng nó chạy vào sảnh đường Dinh Thống đốc,
suýt làm vỡ một độc bình cổ cực quí của Thống đốc. Nơi trại săn, Jacques ngủ với
vợ của Lộc, rồi với Flavia, và Joseph vô tình bắt gặp. Hôm sau, hai mẹ con
Joseph ra Huế dự Lễ Nguyên Đán ở Điện Thái Hòa. Joseph bắt đầu mê mẩn khung cảnh
VN và hoàng thành Huế. Tại đây, Joseph quen với Đào văn Lật, em vợ của Hiếu, một
ký giả du học Pháp về, mê thuyết Siêu Nhân của Nietzsche, sôi nổi cách mạng
chống Khải Định và chống Pháp. Nathaniel đi săn được hai tuần thì xảy ra tai
nạn, khi rượt theo một con min mà ông muốn săn cho bằng được, bất chấp lời
khuyên của Jacques thì bị nó phản công. Chuck xông vào cứu cha, bị con trâu rừng
ấy húc chết.
Phần Thứ Hai: Hận thù của triệu cu li (1929-1930)
Tủi hận vì chuyện mẹ làm với Jacques, Đồng và Học bỏ nhà đi, rồi bị mộ làm phu
cạo mũ, sống như súc vật ở Đồn điền cao su Vị An, gần Ngã Ba Ông Đồn, Đồng Nai.
Việc do thám Jacques vở lỡ, vợ Lộc bị bắt, chết trong tù, Lộc nhờ VN Quốc Dân
Đảng giúp, tìm ra con. Đêm đó, Học bị một tên mô phu hãm hiếp. Sáng hôm sau, Học
dùng mác chém chết tên giám đốc đồn điền. Phu cạo mũ nổi loạn. Ba cha con ra
bắc, gia nhập VNQDĐ. Đào văn Lật lúc này anh là ký giả ở Hà Nội, tham gia chung
chi bộ với cha con Lộc nhưng phản đối vụ khởi nghĩa 1930. Để hiến đời cho cách
mạng, Lật tự thiến mình sau khi làm tình với người yêu là Liên, một tiểu thư con
quan ở Huế. Jacques bỏ nghề săn, làm thanh tra mật thám ở Hà Nội. Ba cha con Lộc
tham gia cuộc tấn công Yên Bái, đồn binh mà Paul lúc này là trung úy đóng tại
đó. Cuộc tấn công thất bại và sau khi ba cha con chém Paul suýt chết, Học bị bắt
rồi bị lên máy chém với 12 liệt sĩ VNQDĐ tại Yên Bái. Lật bỏ VNQDĐ, lập hội kín
riêng, rồi gặp Nguyễn Ái Quốc. Sau đó, Lật tham gia tỉnh ủy cộng sản Nghệ An,
cùng với Lộc và Đồng tổ chức cuộc biểu tình của 30.000 nông dân trong vụ Sô Viết
Nghệ Tỉnh. Pháp oanh tạc đoàn biểu tình tại Hưng Nguyên, Liên trúng bom chết,
Lật và Lộc bị thương rồi bị bắt.
Phần Thứ Ba: Sông Hương (1936)
Hai anh em Tâm và Kim đi học Pháp học Luật trở về; Tâm là người cơ hội chủ
nghĩa, Kim theo cộng sản. Joseph trở lại Sàigòn nghiên cứu lịch sử, hoàn tất
luận án tiến sĩ. Anh gặp lại Paul lúc này là đại úy, chủ trương Pháp Việt đề huề
và đang yêu Kiều Lan. Cha của Paul, Jacques, là Phó giám đốc Nha Liêm Phóng,
công tác tại Huế. Sàigòn lúc này không khí chính trị khá thoải mái vì Mặt trận
Bình dân lên cầm quyền ở Pháp. Trận tranh vô địch quần vợt giữa Kim và một nguòi
Pháp tại Câu Lạc Bộ Thể thao đưa khán giả Pháp Việt tới ẩu đả. Joseph đưa Lan về
nhà; hai người bắt đầu cảm mến nhau. Tối đó, Kim mắng chửi cha là tay sai cho
Pháp, bị Hiếu đuổi khỏi nhà. Joseph đi đón Lộc từ Côn đảo được phóng thích, dò
hỏi về cái chết của Chuck và để lộ tin Jacques đang ở Huế. Joseph ra Huế, cùng
với Lan thăm lăng Minh Mạng, quan chiêm Lễ Tế Trời ở Nam Giao. Sáng đó, hai cha
con Ngô văn Lộc âm mưu ám sát Jacques bên bờ sông Hương nhưng bất thành, Đồng bị
bắt. Đêm đó, hai nguòi yêu nhau trong một con đò trên sông. Joseph đi Hà Nội
nghiên cứu ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, dự tính xong việc sẽ cầu hôn và đem Lan đi
Mỹ. Khi Joseph về lại Sàigòn, tới nhà Lan thì được tin Jacques vừa bị ám sát
chết ở Huế và trước đó, Trần văn Hiếu nhận lời gã Lan cho Paul; Lan vì hiếu thảo
và vì ảnh hưởng vụ Kim bỏ nhà ra đi, không phản đối.
Phần Thứ Tư: Chiến Tranh và Nạn Đói (1941-1945)
Joseph về Mỹ, lập gia đình với Tempe, có hai con trai là Gary và Mark. Sau vụ
Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Joseph nhập ngũ, làm phi công chiến đấu ở căn cứ
Côn Minh. Cuối năm 1944, trong một lần oanh tạc tàu chiến Nhật tại Vịnh Bắc
Việt, máy bay của Joseph trúng đạn, rồi rớt ở Việt Bắc, được cứu đem vào chăm
sóc ở Pắc Bó. Tại đây, Joseph gặp lại Lật và cảm mến Hồ Chí Minh, lúc này đang
tự nhận là người theo chủ nghĩa dân tộc. Sau khi cho du kích quân mang Joseph về
Côn Minh, HCM sang thăm; gặp lúc Nhật đảo chánh ở Đông Dương và với sự giới
thiệu của Joseph với tướng Chennault; được tặng ảnh, tặng súng. HCM cùng cán bộ
Việt Minh ở Pắc Bó biến thành tổ tình báo cho OSS Hoa Nam. Joseph chuyển sang
công tác cho OSS. Cuối tháng 7.1945, Joseph mang người và vũ khí sang Việt Bắc
yễm trợ và huấn luyện cho VN, gặp Kim, Võ Nguyên Giáp. Nhật đầu hàng, HCM và VM
về cướp chính quyền ở Hà Nội mang theo vũ khí của Mỹ. Kim làm trưởng đoàn VM vào
Huế tiếp nhận lễ Thoái Vị của Bảo Đại. Vì tình hình Sàigòn, Joseph được điều vào
đó và chứng kiến những tranh chấp của Pháp, VM và người Việt quốc gia. Joseph
gặp lại Lan, được biết Lan có với Paul một con trai. Lan cho biết trước khi lấy
Paul, nàng đã sinh Tuyết, đứa con thụ thai với Joseph trong đêm trên sông Hương
và hiện gởi nuôi lén ở Nghệ An. Lộc lúc này là Ủy viên VM ở Sàigòn. Sau sáu
tháng bị Nhật giam, Paul được người Anh phóng thích, và chấp hành lệnh, dẫn lính
tấn công Tòa Thị chính vì không muốn người Việt tiến tới độc lập dân tộc theo
lối cộng sản. Đêm đó Lộc trực. Lộc bị lính dù bắn chết, Paul bị thương nặng,
phải lên Đà Lạt dưỡng thương. Joseph nhớ ra nạn đói ở bắc Trung kỳ, cùng Lan
dùng xe jeep ra Nghệ An tìm được Tuyết suýt chết đói. Cả hai đem con về cho Tâm
bí mật nuôi rồi chia tay.
Phần thứ năm: Điện Biên Phủ (1954)
Xảy ra chiến dịch Điện Biên Phú. Lật là chính ủy trong Bộ chỉ huy của Giáp. Đồng
là tiểu đoàn trưởng VM. Paul là trung tá tham mưu trưởng, sau lên đại tá. Joseph
là phóng viên chiến trường Đông Dương. Sau mấy lần lui tới Sàigòn, Joseph lén
lút gặp Lan sau lưng Paul nhưng Lan vẫn thủ tiết với chồng. Joseph đi ĐBP làm
phóng sự, gặp Paul, cứ muốn thú thật. Sau đó, Joseph gặp lại Lan ở Đà Lạt và hai
người qua đêm tại khách sạn Langbian Palace. Trong một chuyến ghé lại ĐBP giữa
tình trạng bị pháo tan nát, Joseph thú với Paul chuyện mình với Lan. Paul thịnh
nộ sắp giết bạn nhưng rồi tha mạng. Cứ điểm ĐBP vỡ. Đồng giết Paul. Joepsh li di
vợ ở Hongkong, dự tính cưới Lan đem về Mỹ. Ngay sáng hôm Lan hẹn trả lời dứt
khoát, hai cha con đi tới khách sạn Continental gặp Joseph nhưng sắp đặt chân
lên khách sạn thì Hiếu bị biệt động thành của VM ám sát, làm Lan chết lây, trước
con mắt của Joseph. Tuyết lúc này 17 tuổi, học ở Marie-Curie, thường hận cha mẹ,
không chịu theo Joseph đi Mỹ mà ở lại. Sau đó Tuyết bỏ nhà Tâm, kết hôn với một
biệt động thành VM tên là Triệu Hùng Lương.
Phần Thứ Sáu: Thái Bình Kiểu Mỹ (1963)
Guy Sherman, đứa con Flavia thụ thai với Jacques Devraux, là nhân viên CIA tại
sứ quán Mỹ. Gary, con của Joseph, nay là trung úy làm cố vấn Mỹ tại VN. Joseph
làm Giáo sư tại Đại học Cornell ở New York. Đồng là tiểu đoàn trưởng Việt Cộng ở
Mộc Linh. Tuyết, mà bây giờ là Tuyết-Lương, thù chồng bị cảnh sát Diệm và CIA
sát hại, ám sát kẻ giết chồng mình rồi mang hai con là Trinh và Chương về quê mẹ
chồng ở Long An rồi làm trung đội trưởng xung kích VC. Lật là ủy viên Bộ Chính
trị Hà Nội được phái vào tiếp tay chỉ đạo MTGPMN. Trong một trận đánh ở Mộc
Linh, Đồng cùng con trai bị tử trận, chỉ còn con út là Kiệt. Trận đó Gary sống
sót, quen với Naomi, một phóng viên truyền hình BBC, đến công tác tại Sàigòn vì
cha là một nam tước quân báo của Anh bị giết tại đó năm 1945. Xong trận, Tuyết
gặp Đào văn Lật dưới địa đạo và được điều qua ngành điệp báo. Guy và Naomi thân
mật và trao đổi tin tức trong các vụ đấu tranh của Phật giáo và vụ đảo chánh
1.11.1963 giết Diệm Nhu, nhưng nàng không trở thành tình nhân như Guy muốn vì cả
hai khác nhau về bản chất.
Phần thứ bảy: Chúng tôi tranh đấu đã ngàn năm (1968-1969)
Gary lên đại úy và là một quân nhân gương mẫu, tiếp tục phục vụ tại VN. Guy vẫn
là viên chức CIA tại sứ quán Mỹ. Naomi tiếp tục làm phóng viên truyền hình cho
BBC. Mark, em của Gary, trung úy phi công tại Đà Nẵng, bị bắn rớt trong một
chuyến oanh tạc miền bắc. Lật bị bắt và biệt giam tại bót Catinat Sài gòn vì
không khai báo. Joseph nhận lời làm cố vấn cho JUSPAO, qua Sàigòn quen với Naomi
và hai người yêu nhau. Joseph viết thư cho Hồ Chí Minh về trường hợp Mark. HCM
và Kim nhân đó khai thác Mark, dụ dỗ đọc bản tự kiểm mà sau đó được phát trên
đài Havana Cuba. Tâm làm phụ tá bộ trưởng thông tin cho chính phủ Sàigòn, chuyên
làm giàu. Nhờ tin tức Guy cung cấp, Joseph đi Huế tìm Tuyết, gặp con gái trong
đêm nổ súng Vụ Mậu Thân mà Tuyết làm tình báo thu thập danh sách quân công cán
chính ở Huế. Joseph bị trúng đạn, Tuyết đem cha về ẩn núp trong con đò trên sông
Hương. Cùng đêm đó, toán đặc công tấn công sứ quán Mỹ có Kiệt, cháu nội của Lộc.
Kết quả, Kiệt và Guy cùng ôm nhau tử trận trong khuôn viên sứ quán; trong người
Kiệt vẫn quấn dãi băng cờ VNQDĐ do cha trối lại. Cuộc Tổng Tấn Công thất bại,
Tuyết vì cứu Joseph, bị bộ đội Hà Nội hãm hiếp; sau đó, thất vọng thấy “thảm sát
Mậu Thân”, và không muốn theo Joseph về Mỹ, Tuyết dẫn hai con ra bắc, nương nhờ
cậu Kim. Joseph sang Anh thành hôn với Naomi, viết một cuốn sách phản chiến nổi
tiếng và tranh luận với TNS Nathaniel trên đài truyền hình BBC. Gary chết vì đạp
trúng mìn khi xông vào can thiệp việc lính Mỹ bắn giết bừa bãi và hãm hiếp phụ
nữ tại Quảng Tơ, Quảng Ngãi. Mark được thả, sống trì độn, cùng với Tempe,
Joseph, tham gia cuộc biểu tình phản chiến lớn nhất ở Washington. Đêm đó,
Nathaniel qua đời, chết trong bất hòa với Joseph và vẫn khăng khăng nói Chuck bị
con min ở An Nam húc chết là vì không nghe lời ông.
Phần thứ tám: Chiến thắng và Chiến bại (1972-1975)
Tuyết ra bắc, chỉ chịu làm công nhân, sống héo hắt với hai con ở Hà Nội. Tháng
12-1972, trong cuộc không tập trước lễ Giáng sinh, Tuyết bị trúng bom chết với
Chương, chỉ còn lại Trinh. Hiệp định Paris được ký kết, Trần văn Kim gặp lại
Joseph và Trần văn Tâm ở Paris. Tới tháng 4.1975, miền nam sắp thất thủ. Naomi
đi Sàigòn làm phóng sự lần cuối. Trần Văn Kim ở Hà Nội bị Đảng thanh trừng, gài
cho lật xe chết, lấy cớ vì Kim gặp Tâm nhưng thật ra vì Kim là nguòi miền nam,
đảng muốn dọn đường để thống trị cả nước. Trước khi đi chết, Kim chuẩn bị cho
Trinh theo cán bộ tiếp quản vào nam để tìm cách liên lạc với Joseph. Qua một
phóng viên Tây ở Hà Nội, Naomi biết chuyện Trinh và Joseph bay qua Sàigòn tìm
cháu ngoại. Tại đây, hai vợ chồng chứng kến những đột biến chính trị, sự dàn xếp
của Hoa Kỳ và Hà Nội trong cơn hấp hối của Sàigòn, các hoạt cảnh di tản hãi
hùng. Tâm cho vợ con và tài sản đi trước qua Thái Lan, rồi di tản theo trực
thăng Mỹ vì từng cộng tác với CIA. Lật là người biết quá nhiều nên trong đêm
29.4, thay vì được phóng thích như ba trăm tù nhân chính trị khác, anh bị CIA
cho lên trực thăng, trên đường di tản ra Hạm đội Bảy thì đạp Lật xuống biển.
Cuối cùng, qua nhiều gian nan và gay cấn, Joseph tìm được Trinh lúc 3 giờ sáng
ngày 30.4 ở gần Biên Hòa, kịp thời đem cháu ra khỏi VN trên chuyến trực thăng
sau cùng rời sứ quán Mỹ.
Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved