|
Nguyễn Trãi
+ TIỂU SỬ:
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải
Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một
học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần Thị Thái,
con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời Trần.
Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê,
nơi cha dạy học. Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai
cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước tạ Nguyễn
Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi và một người em đi theo
chăm sóc. Nghe lời cha khuyên , ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ. Sau
đó, ông tìm theo Lê Lợi. Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào
chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước
nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Sau đó ông được tha, nhưng không
còn được tin cậy như trước. Ông buồn, xin về Côn Sơn. Đó là vào những năm
1438 - 1440. Năm 1440, Lê Thái Tông mời ông trở lại làm việc và giao cho
nhiều công việc quan trọng. Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra vụ nhà vua
chết đột ngột ở Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh). Vốn chứa thù từ lâu đối
với Nguyễn Trãi, bọn gian tà ở triều đình vu cho ông âm mưu giết vua, khép
vào tội phải giết cả ba họ năm 1442.
Nỗi oan tày trời ấy, hơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải tỏa,
rồi cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai sống sót cho làm quan.
Nhìn chung, ở cuộc đời Nguyễn Trãi nổi lên hai điêm cơ bản sau:
Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm có
của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến. O*? Nguyễn Trãi có một nhà
chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, một nhà
văn, một nhà tho* tầm cỡ kiệt xuất.
Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chiụ những oan khiên thảm khốc,
do xã hội củ gây nên cũng tới mức hiếm có trong lịch sử.
+ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN:
- Nhà văn, nhà thơ lớn: là anh hùng dân tộc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn, nhà
thơ lớn. Ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị. "Quân trung từ mệnh tập"
là những thư từ gửi cho các tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều
đình nhà Minh, nhằm thực hiện kế "đánh vào lòng", ngày nay gọi là địch vận.
"Bình Ngô đại cáo" lấy lời Lê Lợi tổng kết 10 năm chống giặc, tuyên bố trước
nhân dân về chính nghĩa quốc gia, dân tộc, về qúa trình chiến đấu gian nan
để đi đến chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại hòa bình cho đất nước. "Lam
Sơn thực lục" là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. "Dư địa chí" viết về
địa lý lịch sử nước ta. "Chí Linh sơn phú" nói về cuộc chiến đấu chống giặc
Minh gian khổ và anh hùng. Các tác phẩm ấy đều là văn bằng chữ Hán.
Về thơ, có hai tập: "Ức trai thi tập" bằng chữ Hán, "Quốc âm thi tập" bằng
chữ Nôm, tức chữ Việt, đó là thơ cả một đời, từ lúc trẻ đến tuổi già, nhiều
nhất là khoảng 10 năm tìm đường và thời gian về nghỉ ở Côn Sơn. Nội dung
thấy rõ trong đó là tâm tình đối với quê hương, gia đình, với nước, với dân,
với bao éo le trong cuộc đời...
- Tình yêu quê hương gia đình: Nội dung thơ văn ông rất phong phú. Đây chỉ
nói vắn tắt một vài khía cạnh. Nét đầu tiên là niềm tha thiết với thiên
nhiên ở quê hương. Bắt đầu là những cái nhỏ nhặt, tưởng như không đâu, nhưng
chan chứa thân thương. Rau muống, mồng tơi, râm bụt, cây chuối, cây đa, cây
mía... đều thành vần điệu. Đào, liễu, tùng, trúc cao sang đứng liền bên cạnh
rau muống, mồng tơi quê mùa một cách tự nhiên. Không chút gì phân biệt sang
hèn. Tất cả đều được lòng ông trìu mến. Ông nói một cách trang trọng: "Hái
cúc, ương lan, hương bén áo, Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn", mà cũng
vừa vui tươi chân chất: "Ao cạn, vớt bèo cấy muống, Trì thanh, phát cỏ ương
sen". Ông phát hiện ra cái đẹp bình dị rất bất ngờ: Đêm trăng gánh nước thì
gánh luôn trăng đem về ("Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về"). Bầu trời không
mây, trong suốt một màu xanh, ông thấy đó là một bầu ngọc đông lại ("Thế
giới đông nên ngọc một bầu"). Thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi, ông nhìn
thành một đám tằm lúc nhúc ("Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi"). Con rùa, con
hạc, núi, chim, mây, trăng, ông coi là con cái, là láng giềng, là anh em:
"Rùa nằm, hạc lẩn nên bầy bạn, U ấp cùng ta làm cái con...", "Núi láng
giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam". Có lúc, ông như hòa
tan mình vào thiên nhiên đến mức dòng suối, tảng đá phủ rêu, vòm thông tán
trúc như hòa nhập với ông làm một: "Côn Sơn có suối rì rầm. Ta nghe như
tiếng đàn cầm bên tai, Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi
chiếu êm, Trong lèn thông mọc như nêm, Tha hồ muôn lọng ta xem chốn nằm,
Trong rừng có bóng trúc râm, Giữa màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn"... (Côn Sơn
ca - dịch).
Tiếp theo là niềm tha thiết với bà con thân thuộc ở quê nhà. Thời còn giặc
Minh, nhiều năm ông phải lẫn tránh khắp nơi, xa nhà, xa quê, xa bà con thân
thuộc với bao nỗi buồn rầụ Đêm thu, xa nhà, bên ngọn đèn khuya, ông day dứt:
:Gió thu đến, lá rụng rồi. mình vẫn lận đận quê người, Đêm mưa, bên ngọn đèn
leo lét, hồn mộng cứ vẫn vơ mãi nơi đất khách" (Đêm thu đất khách - dịch).
Tiết Thanh minh đến, theo tục, con cháu phải về thăm mồ mã ông bà, sửa sang,
bồi đắp, thắp nén hương tưởng nhớ, cho đúng đạo làm con cháu, thế mà đã bao
năm ông không về được. Ông chỉ não lòng: "Thân mình xa ngàn dặm, mồ mã ông
bà ở quê không sao giẫy cỏ thắp hương, Mười năm đã qua, những nguời ruột
thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai, Đành mượn chén rượu ép mình uống, không
cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê" (Thanh minh - dịch).
Ông mất mẹ lúc mới lên sáu. Lòng con thương mẹ càng nồng. Ông bà ngoại, cậu,
dì đều ở Côn Sơn. Quê nội nhiều đời cũng ở đó. Một lần đi thuyền về thăm,
ông ôn lại bao nỗi đắng cay trong những ngày lưu lạc. Nghe sao mà tha thiết:
"Mười năm rồi mình trôi dạc như cánh bèo, Đêm ngày nổi nhớ quê cứ như giày
vò trong lòng, Bao lần đã gửi hồn tìm về quê cũ, Nhưng rồi đành nhỏ nước mắt
thấm máu mà gội rửa trong tưởng tượng nấm mồ mẹ, mồ mã ông bà, còn xóm làng,
bà con, trong lúc giặc giày xéo thì tránh sao được những hành vi bạo tàn của
chúng! mà mình thì cứ đang phải thương xót suông, Trời: biết làm sao đây!
Một đêm trôi qua bên gối, không cách nào nhắm mắt được" (viết trên thuyền về
Côn Sơn - dịch).
- Đời sống trong sạch, suốt đời một lòng vì nước vì dân: Trở về với nông
thôn, ông yên lòng và tự hào: "Quê cũ nhà ta thiếu của nào, Rau trong nội,
cá trong ao". Cấy cày là niềm vui: "Một cày một cuốc thú nhà quề, Áng chúc
lan chen vãi đậu kê". Người dân bùn lấm đáng được biết ơn: "Ăn lộc đền ơn kẻ
cấy cày". Cuộc sống giản dị, nghèo mà thanh: "Bữa ăn dầu có dưa muối, Áo mặc
nài chi gấm là", "Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bô quen cật vận xềnh
xoàng", xa lánh chốn lợi danh nham hiểm: "Co qoe thay bấy ruột ốc, Khúc
khuỷu làm chi trái hòe". Ông ca ngợi chi tiết của tùng, trúc, mai, ba cây
không chịu khuất phục trước giá lạnh mùa đông và ông luôn giữ một tấm lòng
trong sạch, một tấm "lòng thơm".
Lòng thơm ấy là lòng yêu nước thương dân. Có khi ông gọi đó là "lòng trung
hiếu", "lòng ưu ái". Nó suốt đời sôi nổi: "Bui có một lòng trung liễn hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen", "Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày
cuồn cuộn nước triều đông". Nó dựa trên lý tưởng nhân nghĩa. Nhân nghĩa là
một tư tưởng cao qúy xuyên thấm cuộc đời và thơ văn ông. Đối với ông, nhân
nghĩa là "yên dân", "trừ bạo" hay "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược". Được
như vậy mới thực sự "Có nhân, có trí, có anh hùng". Nhân trí, anh hùng ấy
thuộc lòng yêu nước cao cả của ông, yêu nước bằng tư tưởng, tình cảm, bằng
hành động cứu nước lo dân tuyệt vời. Nói cụ thể như : "cái nhân, cái nghĩa
lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt bạo tàn, vì độc lập của
nước, hạnh phúc của dân". Đất nước bị ngoại xâm, nó hiện thành lòng lòng căm
thù giặc cao độ và ý chí kiên trì, gang thép tiêu diệt quân thù: "Căm giặc
nước thề không cùng sống", "Nếm mật nằm gai, há phải một sớm hai tối, Quên
ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh". Quân giặc quét sạch rồi, nó là
khát khao xây dựng một đất nước hưng thịnh, nhân dân đời đời ấm no hạnh
phúc: "Xã tắc từ đây bền vững, Giang sơn từ đây đổi mới...., Muôn thởu nền
thái bình vững chắc".
 |