|
Đoàn Thị Điểm
(ất dậu 1705 - Bính dần 1746)
Nữ sĩ, hiệu Hồng Hà nữ sĩ, con Đoàn Doãn Nghi và Võ thị, em danh
sĩ Đoàn Doãn Luân.
Tổ quán vốn ở xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (tỉnh
Bắc Ninh). Sau, bà và mẹ về ở với anh ở huyện Đường Hào, tỉnh
Hải Dương (nay là Hải Hưng).
Năm 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn muốn xin bà làm con nuôi để tiến
vào làm phi tần trong cung, nhưng chỉ ở ít lâu bà xin về. Cùng với
anh cần cù học tập trở nên người sành văn chương.
Bà kén chồng, cha mất, bà đã 25 tuổi, vẫn chưa đính hôn với ai.
Mãn tang cha, có công tử làng Hoạch Trạch là Nhữ Đình Toản và
Thượng thư ở làng Kim Lũ ân cần nhờ mối giạm hỏi, bà đều từ
chối.
Người anh mất, bà đảm nhận gánh nặng gia đình. Bấy giờ, người
làng Sài Trang, huyện Đường Hào có con gái tiến cung, đón bà vào
cung ở dạy nàng cung tần ấy.
Năm Kỷ tị 1739, trong nước loạn lạc, chợ An Bình và làng Mĩ thử
bị tàn phá, bà từ chức giáo thụ ở cung cấm, về ngụ ở xã Chương
Dương dạy học.
Sau bà lập gia đình với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, người làng Phú Xá,
huyện Từ Liêm. Ngày chồng bà lên đường đến nhiệm sở mới (ở Nghệ
An) bà mất nhằm ngày 11-9 năm Bính dần 1746.
Tương truyền chính bà đã phiên dịch khúc ngâm chinh phụ của Đặng
Trần Côn (nhưng cũng có sách cho rằng bản dịch đó là của Phan Huy
ích). Điều biết chắc chắn là bà giỏi văn chương, có nhiều thơ văn
xướng họa với anh, với chồng khá nhiều, nhưng phần lớn đã thất
lạc. Duy còn một bản Tục truyền kì cũng gọi là Truyền kì tân
phả (để phân biệt với Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ).
Theo Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí quyển 45) tập
truyện Tục truyền kì gồm 6 truyện: Bích câu kì ngộ, Hải khẩu linh
từ, Vân cát thần nữ, Hoành sơn tiên cuộc, An ấp liệt nữ, Nghĩa
khuyển khuất miêu.
Nhưng trong Nam sử tập biên quyển 5 (1724) quả quyết bà Điểm chỉ có
3 truyện:
- Hải khẩu linh từ (tức chuyện nữ thần Chế Thắng).
- Vân Cát thần nữ (Liễu Hạnh công chúa).
- An ấp liệt nữ (chuyện Phan thị, vợ thứ của Đinh Nho Hoàn).
 |