|
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
Phó tiến sĩ sử học Trần Thị Vinh
Vào nửa sau thế kỷ VIII, quyền thống trị của triều đình Trường An đã bắt đầu
suy yếu. Chiến tranh giữa "phiên trấn" và "triều đình" - mà đỉnh cao là loạn
An Sử - càng làm cho nhà Đường lụn bại. Uy quyền của bọn tiết độ sứ và đô hộ
ngày một tăng, chúng tự ý trưng thu thuế má. Cao Chính Bình, hiệu úy châu Vũ
Định (miền Việt Bắc), năm 767 giúp kinh lược sứ An Nam Trương Bá Nghi đánh
bại được cuộc xâm lược của quân Chà Và (Ja va) ở Chu Diên, sau đó y được cử
làm đô hộ An Nam. Y ra sức bòn rút của cải của nhân dân ta, đánh thuế rất
nặng. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào,
nhân lòng căm phẫn của nhân dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình nổi
loạn, người hào trưởng đất Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà
Nội) là Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô
hộ.
Sử liệu gốc ghi lại về Phùng Hưng không nhiều. Chỉ biết, Phùng Hưng xuất
thân từ dòng dõi cự tộc, hào trưởng đất Đường Lâm. Đường Lâm xưa kia vốn là
vùng đồi gò và rừng cây rậm rạp, thú vật dữ tợn thường hay lui tới, nên nơi
đây tục gọi là Đường Lâm hay Cam Lâm.
Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Tói Cái - người đã
từng vào trong cung nhà Đường Cao Tổ, đời Đường Vũ Đức (618-626) dự yến tiệc
và làm quan lang ở đất Đường Lâm. Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh - một
người hiền tài đức độ. Khoảng năm Nhâm Tuất (722) đời Đường Khai Nguyên, ông
đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Sau đó, ông trở về quê chăm
chú công việc điền viên, trở nên giàu có, trong nhà nuôi nô tỳ có đến hàng
nghìn người (theo bia Quảng Bá).
Theo sự tích, Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử. Ông bà sinh một lần
được ba người con trai khôi ngô khác thường, lớn lên ai cũng có sức khỏe, có
thể kéo trâu, quật hổ. Anh cả là Phùng Hưng, em thứ 2 là Phùng Hải (tự là Tư
Hào) và em út là Phùng Dĩnh (tự là Danh Đạt). Đến năm ba anh em 18 tuổi thì
bố mẹ đều mất.
Cho tới nay về ngày sinh và ngày mất của Phùng Hưng vẫn chưa rõ. Một nguồn
dã sử cho biết Phùng Hưng sinh ngày 25 tháng 11 năm Canh Tý (760) (tức
5-1-761) và chết ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13-9-802), thọ 41 tuổi.
Trong ba anh em, anh cả Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc
biệt. Ông được sử sách và truyền thuyết dân gian lưu truyền về tài đánh
trâu, quật hổ ở đất Đường Lâm. Có lần ông đánh được 2 con trâu mộng đang húc
nhau, dân làng ai cũng thán phục. Lần khác lại trừ được hổ dữ, bằng mưu kế,
đem lại bình yên cho làng xóm mà cho tới giờ nhân dân Đường Lâm còn lưu
truyền về câu chuyện đó.
Phùng Hưng còn là vị anh hùng đầu tiên trong những người con ưu tú của đất
Đường Lâm. Và Phùng Hưng cũng là người anh hùng đầu tiên đã đánh chiếm lại
thành Tống Bình (Hà Nội), trị sở của chính quyền đô hộ lúc đó và xây dựng
nền tự chủ trong khoảng gần chục năm.
Thoạt kỳ thủy, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi nghĩa quân tiến
lên đánh chiếm được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc Phong Châu, xây
dựng thành căn cứ chống giặc. Phùng Hưng xưng là: Đô Quân; Phùng Hải xưng là
Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng, chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm
yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân thắng bại. Tình hình
diễn ra như vậy hơn 20 năm.
Năm Tân Mùi 791, mùa hạ, tháng 4, Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh đem quân
vây đánh thành Tống Bình. Quân của Phùng Hưng chia làm 5 đạo do các tướng
Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần và chủ tướng Phùng Hưng tiến
công vây thành. Quân của Cao Chính Bình (khoảng hơn 4 vạn bia Quảng Bá) đem
ra chống cự. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt trong khoảng 7 ngày, quân
địch chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng
bị ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính
sự đất nước được 7 năm thì mất. Rất tiếc trong 7 năm ấy, sử sách không để
lại một nguồn tài liệu nào về ông. Sau khi mất, con trai ông là Phùng An lên
nối ngôi, dâng tôn hiệu cha là Bố Cái Đại Vương. An nối nghiệp được hai năm
thì chính quyền lại rơi vào tay giặc. Nền tự chủ vừa mới xây dựng, chỉ tồn
tại vẻn vẹn trên dưới 9 năm.
Sử liệu và truyền thuyết dân gian ở vùng Đường Lâm kể lại rằng: Phùng Hưng
chết rồi rất hiển linh, thường hiện hình trong dân gian, giúp dân trong lúc
hoạn nạn. Dân làng cho là linh ứng, lập miếu để thờ tự tại Đường Lâm. Tương
truyền sau này, Phùng Hưng còn hiển linh giúp Ngô Quyền đánh thắng giặc ở
sông Bạch Đằng. Thấy vậy, Ngô Quyền cho lập đền thờ quy mô to lớn hơn trước.
Sự ngưỡng mộ đối với người anh hùng dân tộc họ Phùng còn thể hiện ở việc lập
đền thờ phụng của nhân dân như ở đình Quảng Bá (Hà Nội), đình Triều Khúc (Hà
Tây), thờ ở lăng Đại áng, Phương Trung, Hoạch An, phủ Thanh Oai (Hà
Tây),v.v.
Hiện nay dấu vết lăng mộ của Phùng Hưng còn lại ở đầu phố Giảng Võ (gần bến
xe Kim Mã), vì khi chết, ông được mai táng ở cạnh phủ Tống Bình, sau đó mới
đưa thi hài về quê hương. Để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc, Nhà nước ta
đã đặt tên phố Phùng Hưng tại phía cửa Đông của thủ đô Hà Nội.
 |